Giải mã định giá 530 triệu USD mảng sản xuất của VinFast
Thương vụ VinFast chuyển nhượng mảng sản xuất tại Việt Nam với mức giá 530 triệu USD được xác định dựa trên giá trị sổ sách và cao gấp 5 lần mức định giá trung bình của đơn vị tư vấn độc lập, theo hồ sơ chi tiết vừa đệ trình lên Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC).
Theo tài liệu gửi SEC, mức giá 13.309,6 tỷ đồng, tương đương 530 triệu USD, được các bên thỏa thuận dựa trên giá trị sổ sách của tài sản thuần hợp nhất theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam phân bổ cho Công ty Cổ phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast (VFTP) tính đến ngày 31/3/2026.
Để đảm bảo tính khách quan, VinFast đã đệ trình kèm báo cáo của Grant Thornton với tư cách là đơn vị tư vấn tài chính độc lập. Đơn vị này áp dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền, cho ra kết quả giá trị vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sản xuất dao động từ 36 triệu USD đến 609 triệu USD.
Mức giá giao dịch thực tế 530 triệu USD nằm ở vùng cận trên của biên độ định giá và vượt mức định giá trung bình 106 triệu USD.
| Các cấu phần hình thành giá trị doanh nghiệp | Giá trị ước tính (Mức trung bình) |
| Định giá mảng sản xuất cốt lõi | 2,575 tỷ USD |
| Hợp đồng hợp tác đầu tư (Saigon Glory) | 560 triệu USD |
| Tiền mặt và các khoản điều chỉnh khác | 277 triệu USD |
| Trừ: Nợ vay tài chính | (2,476 tỷ USD) |
| Trừ: Nợ thuê tài chính | (831 triệu USD) |
| Giá trị vốn chủ sở hữu (Equity Value) | 106 triệu USD |
Báo cáo định giá trình lên SEC chỉ rõ nguyên nhân khiến giá trị vốn chủ sở hữu ở mức thấp dù mảng sản xuất cốt lõi được định giá 2,575 tỷ USD xuất phát từ cấu trúc nợ.
Trên bảng cân đối kế toán dự phóng, thực thể sản xuất này phải ghi nhận tổng nghĩa vụ nợ lên mức 3,3 tỷ USD.
Các số liệu này đã bao gồm tác động từ việc Tập đoàn Vingroup hoán đổi 10.000 tỷ đồng nợ vay thành vốn góp cổ phần ưu đãi trong quý II/2026.
Việc khấu trừ toàn bộ các nghĩa vụ tài chính này làm giảm đáng kể định giá vốn chủ sở hữu cuối cùng.
| Cơ cấu nợ vay dự phóng tính đến 31/03/2026 | Giá trị ước tính |
| Nợ vay tài chính (các khoản vay ngân hàng, trái phiếu) | 2,476 tỷ USD |
| Nợ thuê tài chính (nghĩa vụ thuê nhà xưởng, hạ tầng) | 831 triệu USD |
| Tổng nghĩa vụ nợ | 3,307 tỷ USD |
Dự phóng hoạt động và các tài sản khác
Mô hình định giá áp dụng mức chi phí vốn bình quân 13,69% (WACC) cho mảng sản xuất và tốc độ tăng trưởng vĩnh viễn 4%.
Doanh thu của đơn vị sản xuất được tính theo mô hình giá thành cộng thêm 5%, tương ứng với biên lợi nhuận thuần mục tiêu khoảng 4,48%.
Đơn vị tư vấn xây dựng định giá dựa trên kịch bản tổng sản lượng từ năm 2026 đến 2030 đạt 1,36 triệu xe ô tô điện và hơn 2 triệu xe máy điện. Biên lợi nhuận gộp được kỳ vọng chuyển sang mức dương 1% vào năm 2030 khi tỷ lệ sử dụng công suất được tối ưu.
| Dự phóng hoạt động sản xuất (2026 - 2030) | 2026 | 2027 | 2028 | 2029 | 2030 |
| Tỷ lệ sử dụng công suất ô tô điện | 41,0% | 54,4% | 71,1% | 83,6% | 91,0% |
| Tỷ lệ sử dụng công suất xe máy điện | 58,0% | 61,7% | 79,3% | 87,3% | 100,0% |
| Biên lợi nhuận gộp dự phóng | -8,6% | -8,6% | -3,6% | -1,4% | 1,0% |
Bên cạnh mảng sản xuất, cấu phần định giá được ghi nhận trong hồ sơ SEC còn bao gồm Hợp đồng Hợp tác đầu tư với Saigon Glory tại dự án khu tứ giác Bến Thành, được định giá 560 triệu USD.
Mức giá này đo lường dòng tiền từ quyền nhận 90% lợi nhuận hàng năm với cam kết tổng lợi nhuận tối thiểu đạt 20.814 tỷ đồng trên quy mô vốn góp tối đa 20.700 tỷ đồng. Đơn vị tư vấn đã áp dụng tỷ lệ chiết khấu 15% cho khoản mục này.
Thông qua cấu trúc định giá tổng thể, việc chuyển nhượng ở mức 530 triệu USD giúp pháp nhân VinFast tại Mỹ thu hồi nguồn tiền để tất toán dứt điểm khoản kỳ phiếu 404,8 triệu USD. Đồng thời, giao dịch chuyển giao quy mô nợ vay 3,307 tỷ USD sang pháp nhân nội địa, phục vụ trực tiếp cho quá trình chuyển đổi sang mô hình hoạt động tối ưu hóa tài sản.
Nhịp sống thị trường