“Sóng” cổ phiếu vốn nhà nước: Cơ hội hay áp lực nguồn cung?
Quyết định 40/2026/QĐ-TTg mở ra khung sở hữu cho doanh nghiệp có vốn nhà nước, tạo kỳ vọng cho nhiều cổ phiếu. Tuy nhiên, phản ứng tăng giá đồng loạt của nhóm cổ phiếu này vừa qua phải chăng chỉ là bước khởi đầu. Khả năng cải thiện thanh khoản, thu hút vốn tổ chức và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp còn phụ thuộc phương án, định giá và tiến độ triển khai?
Khung sở hữu mở lại kỳ vọng
Phiên giao dịch ngày 7/8 nổi bật với nhóm cổ phiếu có vốn nhà nước. VN-Index đóng cửa ở 1.768,06 điểm, tăng 3,28 điểm, tương ứng 0,19%. GAS, GVR tăng hết biên độ; BSR và PLX cũng diễn biến tích cực. Nhóm này trở thành lực đỡ khi thị trường phân hóa, thanh khoản của thị trường chưa tăng mạnh.
Dòng tiền chú ý đến nhóm này sau khi Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg ngày 5/8/2026, quy định tiêu chí phân loại doanh nghiệp để cơ cấu lại vốn nhà nước. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký, tạo cơ sở xây dựng kế hoạch giữ nguyên tỷ lệ sở hữu hoặc thực hiện các hình thức làm thay đổi tỷ lệ cổ phần, phần vốn góp của Nhà nước.
Theo khung mới, doanh nghiệp được phân loại theo ngành, lĩnh vực và ba mức sở hữu. Nhóm Nhà nước nắm 100% vốn tập trung vào dịch vụ công ích thiết yếu, độc quyền tự nhiên, khoa học và công nghệ, hạ tầng trọng điểm cùng một số lĩnh vực then chốt. Nhóm từ 65% trở lên gồm tài chính, ngân hàng, hàng không, một số cảng biển, khai khoáng lớn, cơ khí chế tạo, cấp thoát nước. Nhóm trên 50% đến dưới 65% gồm đầu mối nhập khẩu xăng dầu chiếm thị phần từ 30% trở lên, một số dịch vụ viễn thông đặc biệt và thăm dò khoáng sản.
Với doanh nghiệp ngoài tiêu chí phân loại, định hướng là nhà nước không tiếp tục nắm giữ vốn, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định khác. Doanh nghiệp đa ngành áp dụng khung sở hữu của ngành có tỷ trọng lớn nhất trong tổng sản lượng hoặc tổng doanh thu ba năm liên tiếp.
Theo các chuyên gia Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC), Quyết định 40 được xây dựng theo tinh thần Nghị quyết 79-NQ/TW, thể hiện cách tiếp cận không chỉ bảo toàn vốn mà còn khai thác nguồn lực theo hướng tạo giá trị. Việc phân cấp phê duyệt kế hoạch được kỳ vọng tăng tính chủ động, rút ngắn thời gian xử lý khoản đầu tư kém hiệu quả.
BSC Research lưu ý cơ cấu vốn có thể diễn ra theo hai chiều, thay vì chỉ giảm sở hữu. Một số ngành được nâng tỷ lệ nắm giữ tối thiểu, trong khi một số lĩnh vực không còn thuộc diện Nhà nước tiếp tục nắm vốn theo tiêu chí chung. Quyết định 40 vì vậy không phải danh sách thoái vốn mới.
Cơ hội đi cùng áp lực nguồn cung
Các khung sở hữu sẽ tác động khác nhau đến từng doanh nghiệp. BSC Research thống kê, cuối năm 2025, tỷ lệ sở hữu Nhà nước tại GVR là 96,8%, GAS 95,8%, ACV và BCM cùng 95,4%, BSR 92,1%. Tỷ lệ sở hữu nhà nước ở mức cao làm gia tăng kỳ vọng mở rộng lượng cổ phiếu lưu hành tự do, nhưng chưa đồng nghĩa doanh nghiệp đã có phương án giảm vốn nhà nước.
Theo Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), Quyết định 40 giúp làm rõ định hướng quản lý vốn nhà nước, tạo cơ sở để thị trường nhận diện những doanh nghiệp có khả năng thay đổi tỷ lệ sở hữu. Nếu được phê duyệt và triển khai, việc giảm tỷ lệ vốn nhà nước có thể làm tăng lượng cổ phiếu được tự do chuyển nhượng, qua đó hỗ trợ thanh khoản và mở rộng khả năng tham gia của nhà đầu tư tổ chức. Tác động cụ thể còn phụ thuộc phương án cơ cấu vốn của từng doanh nghiệp.
Tuy nhiên theo nhận định của Chứng khoán Mirae Asset, tác động lên từng cổ phiếu sẽ không đồng nhất. Doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao hơn mức tối thiểu có thể huy động vốn qua phát hành cho nhà đầu tư chiến lược mà vẫn duy trì quyền chi phối. Việc thoái vốn với khối lượng lớn có thể gia tăng nguồn cung, gây áp lực lên giá; do đó kỳ vọng tái cơ cấu phải đặt cạnh phương thức bán và sức hấp thụ của thị trường.
Tỷ lệ sở hữu tập trung cũng là điểm nghẽn. Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, có khoảng 789 công ty đại chúng có nguồn gốc từ doanh nghiệp nhà nước; không ít đơn vị chưa đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông hoặc vốn. Tại một số doanh nghiệp, cổ đông lớn, đặc biệt là Nhà nước, nắm 90-99% vốn điều lệ, khiến tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng thấp và thanh khoản hạn chế.
Việc đối chiếu tỷ lệ sở hữu hiện tại với khung mới cần thực hiện theo ngành hoạt động và vai trò của từng doanh nghiệp. Chỉ nhìn vào khoảng cách giữa tỷ lệ Nhà nước đang nắm giữ và mức tối thiểu sẽ không đủ để xác định hướng cơ cấu. Phương án cuối cùng còn phụ thuộc tiêu chí phân loại, yêu cầu pháp luật chuyên ngành và kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Kỳ vọng thị trường sẽ được kiểm chứng bởi tiến độ. Tại Công điện số 52/CĐ-TTg ngày 7/8/2026, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước tập trung cơ cấu lại vốn; giám sát chuyển giao, quản lý vốn và khuyến khích hợp nhất, sáp nhập, chuyển giao doanh nghiệp để phát huy lợi thế của ngành kinh tế.
Công điện 52/CĐ-TTg yêu cầu: “Khẩn trương xây dựng và phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030 đối với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý, hoàn thành trước ngày 31/8/2026”.
Công điện đồng thời ấn định lộ trình riêng đối với nhóm doanh nghiệp thuộc Phụ lục III của Nghị định 57/2026/NĐ-CP và các trường hợp được nêu trong văn bản. Đề xuất kế hoạch phải gửi Bộ Tài chính trước ngày 12/8. Bộ Tài chính được giao tổng hợp, báo cáo Thủ tướng trước ngày 25/8 để xem xét, phê duyệt kế hoạch giai đoạn 2026-2030.
Thời hạn gấp tạo kỳ vọng cơ cấu sẽ chuyển từ định hướng sang kế hoạch. Dù vậy, BSC chỉ ra rào cản lớn là định giá tài sản và xác định giá trị doanh nghiệp, nhất là đơn vị quy mô lớn. Vấn đề đất đai, thủ tục phê duyệt và phối hợp thẩm định có thể ảnh hưởng tiến độ, chất lượng thoái vốn.
Nhịp tăng của cổ phiếu vốn nhà nước mới phản ánh kỳ vọng ban đầu gắn với chính sách. Phép thử nằm ở lựa chọn tỷ lệ sở hữu phù hợp, định giá minh bạch, bảo toàn vốn nhà nước và tạo không gian cho dòng vốn xã hội. Các nhà phân tích nhìn nhận, chỉ khi phương án cụ thể được công bố, thị trường mới có đủ căn cứ phân biệt cơ hội cơ bản với nhịp tăng dựa trên kỳ vọng.
Thời Báo Ngân Hàng