GDP năm 2010 có thể tăng trưởng 7%
Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế-xã hội Quốc gia đưa ra dự báo kinh tế năm 2010. Phương án 1, GDP báo tăng trưởng kinh tế khoảng 6-6,5%. Phương án 2, tăng trưởng khoảng 7%.
TS. Lê Đình Ân, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế-xã hội Quốc gia tại Hội thảo "Kinh tế Việt Nam năm 2010: Nhận diện cơ hội đầu tư - kinh doanh" vừa diễn ra hôm qua (14/1) đã đưa ra kết quả phân tích đã đưa ra các phương án dự báo kinh tế năm 2010.
Phương án 1: là phương án chú trọng nhiều hơn đến chất lượng tăng trưởng. Trong phương án này, dự báo tăng trưởng kinh tế khoảng 6-6,5%, tăng trưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 3,0-3,2%; công nghiệp và xây dựng 6,4-6,8%; dịch vụ 7,1-7,9%.
Theo phương án này, để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tránh gây xáo động lớn trong kinh tế và xã hội, cần tính toán kỹ việc huy động và sử dụng nguồn lực phát triển trong nền kinh tế.
Trong đó, vốn đầu tư toàn xã hội dừng ở mức 40% GDP, với cơ cấu nguồn vốn sẽ giảm đáng kể từ nguồn ngân sách, sắp xếp lại cơ cấu đầu tư theo hướng hiệu quả, huy động tốt hơn các nguồn vốn ngoài ngân sách. Tiếp tục có các biện pháp kiểm soát giá một cách chặt chẽ, giữ chỉ số giá tiêu dùng ở mức một con số, thâm hụt ngân sách khoảng 6,2% GDP.
Phương án 2: Là phương án theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao, khoảng 7%. Tốc độ tăng trưởng khu vực nông, lâm và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ tương ứng là 3,2-3,4%; 6,8-7,4% và 7,9-8,5%.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao như vậy, sẽ vẫn phải chủ yếu dựa vào việc tăng đầu tư và chi tiêu của Chính phủ, trong đó đầu tư là chủ yếu. Theo phương án này tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên gần 835 nghìn tỷ đồng chiếm khoảng 42% GDP.
Việc tăng đầu tư và chi tiêu của Chính phủ sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng cao khoảng 6,5% GDP. Bên cạnh đó việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng trong điều kiện hiệu quả đầu tư không cao như hiện nay thì vấn đề lạm phát cần phải đặc biệt chú ý và có những biện pháp kiểm soát một cách chặt chẽ.
Dự báo kim ngạch xuất khẩu năm 2010 từ 66,4 - 67,8 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu từ 77,5 - 80 tỷ USD, thâm hụt thương mại trên 12 tỷ USD.
Kết quả dự báo một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô năm 2010
|
Chỉ tiêu |
Đơn vị |
2009 (ước)
|
Dự báo 2010 | ||
|
PA1 |
PA2 | ||||
|
GDP |
% |
5,3 |
6,0-6,5 |
≥ 7,0 | |
|
Tốc độ tăng trưởng |
Nông, lâm, thủy sản |
% |
1,8 |
3,0-3,2 |
3,2-3,4 |
|
Công nghiệp và Xây dựng |
% |
5,5 |
6,4-6,8 |
6,8-7,4 | |
|
Dịch vụ |
% |
6,6 |
7,1-7,9 |
7,9-8,5 | |
|
Cơ cấu |
Nông, lâm, thủy sản |
% |
20,44 |
20,5 |
20,5 |
|
Công nghiệp và Xây dựng |
% |
40,18 |
40 |
40 | |
|
Dịch vụ |
% |
39,38 |
39,5 |
39,5 | |
|
CPI |
% |
6,8 |
<10 |
<10 | |
|
Xuất khẩu |
Tỷ USD |
56,6 |
66,4 |
67,8 | |
|
Tốc độ tăng xuất khẩu |
% |
-9,7 |
5,88 |
8,16 | |
|
Nhập khẩu |
Tỷ USD |
68,8 |
77,5 |
80 | |
|
Tốc độ tăng nhập khẩu |
% |
-14,7 |
7,58 |
11,17 | |
|
Thâm hụt thương mại |
Tỷ USD |
12,2 |
11,1 |
12,2 | |
|
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội |
1000 tỷ đồng |
708,5 |
790 |
835 | |
|
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP |
% |
42,8 |
40 |
42 | |
|
Trong đó: |
Vốn từ NSNN |
1000 tỷ đồng |
161,0 |
130 |
145 |
|
Vốn trái phiếu CP |
1000 tỷ đồng |
50 |
- |
- | |
|
FDI |
Tỷ USD |
10 |
11 |
12 | |
|
Thâm hụt ngân sách/GDP |
% |
7,0 |
6,2 |
6,5 | |
3 khó khăn: thâm thụt cán cân vãng lai, lạm phát và nguy cơ bất ổn thị trường tài chính
Tại Hội thảo, TS. Nguyễn Thị Kim Thanh, viện trưởng Viện Chiến lược phát triển ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết: kinh tế trong nước, mặc dù có đà tăng trưởng và lạm phát được kiềm chế ở mức thấp của năm 2009, song năm 2010 nền kinh tế tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn lớn
Thứ nhất, thâm hụt cán cân thương mại, trong những năm trước, nguồn bù đắp cho thâm hụt này chủ yếu từ nguồn vốn nước ngoài. Tuy nhiên, khi kinh tế thế giới chưa phục hồi thì sự bù đắp này sẽ khó khăn. Điều này thể hiện rõ ở sự thâm hụt cán cân thanh toán năm 2009 sau 8 năm thặng dư.

Thêm vào đó, vốn đầu tư nhiều nhưng hiệu quả vốn đầu tư còn thấp. Tổng vốn đầu tư trên GDP năm 2009 tăng 42,8% từ mức 41,3% năm 2008, nhưng tích lũy tài sản chỉ tăng 4,3%.

Đặc biệt là đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước, chấn chỉnh để nâng cao hiệu quả đầu tư công và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.