MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Việt Nam mắc ung thư gan cao bậc nhất thế giới: Giáo sư ung bướu chỉ ra lý do

| | Sống

Ung thư gan là một trong những loại ung thư có tỷ lệ mắc và tử vong cao tại Việt Nam. Theo các chuyên gia, thực trạng này xuất phát từ nhiều yếu tố.

Nhiều yếu tố làm gia tăng nguy cơ ung thư gan

Trao đổi bên lề Diễn đàn Khoa học và Hợp tác quốc tế trong Ung thư và Y học hạt nhân do Bệnh viện Đa khoa Phương Đông tổ chức, GS.TS.BS Mai Trọng Khoa, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nguyên Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ mắc ung thư gan cao trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam có tỷ lệ mắc ung thư gan theo giới tính nam cao thứ 3 thế giới, chỉ đứng sau Mông Cổ và Lào.

Tại Việt Nam, ung thư gan đứng đầu trong các loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới và thứ 5 ở nữ giới với số mắc năm 2018 là 25.335 ca. Tỷ lệ mắc ở nam giới nước ta là 39/100.000 dân, trong khi nữ giới là 9,5/100.000 dân. Tỷ lệ mắc bệnh là 23,2 trên 100.000 người ở cả hai giới.

Lý giải về lý do ung thư gan mắc cao ở Việt Nam, GS Khoa cho biết: “Không thể quy tình trạng này cho một nguyên nhân duy nhất. Nguy cơ ung thư gan là kết quả của nhiều yếu tố, từ bệnh lý nền, môi trường đến thói quen ăn uống và sinh hoạt”.

Gan là cơ quan đảm nhiệm vai trò chuyển hóa, xử lý nhiều chất được cơ thể hấp thu. Vì vậy, cơ quan này có thể chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bất lợi trong môi trường và chế độ ăn uống. Việc tiếp xúc với các chất độc hại, sử dụng thực phẩm không bảo đảm an toàn hoặc ăn phải thực phẩm bị nấm mốc có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe, trong đó có gan.

GS Mai Trọng Khoa bên lề Diễn đàn Khoa học (ảnh: N.M).

Một yếu tố đáng chú ý khác là thói quen uống rượu bia. Việc sử dụng đồ uống có cồn kéo dài có thể gây tổn thương gan, dẫn đến các bệnh lý như xơ gan, từ đó làm tăng nguy cơ ung thư gan.

“Đặc biệt tại Việt Nam, viêm gan virus, nhất là viêm gan B, là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ung thư gan tại Việt Nam. Tình trạng viêm gan kéo dài có thể làm tổn thương tế bào gan, thúc đẩy quá trình xơ hóa và làm tăng nguy cơ hình thành khối u ác tính”, GS Khoa nói.

Ngoài ra, các yếu tố di truyền và những biến đổi gene cũng có thể liên quan đến sự phát triển của bệnh.

Bên cạnh các yếu tố nguy cơ, sự gia tăng dân số và quá trình già hóa dân số cũng ảnh hưởng đến tổng số ca ung thư được ghi nhận. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác xu hướng mắc bệnh, cần phân biệt số ca mắc tuyệt đối với tỷ lệ mắc đã được chuẩn hóa theo tuổi.

Phát hiện muộn khiến điều trị ung thư gan thêm khó khăn

Theo GS.TS.BS Mai Trọng Khoa, ung thư gan có nhiều phương pháp điều trị, từ phẫu thuật, hóa trị, xạ trị đến các phương pháp can thiệp tại chỗ, nút mạch, điều trị nhắm trúng đích và miễn dịch. Tuy nhiên, việc có nhiều phương pháp không đồng nghĩa mọi bệnh nhân đều đạt được kết quả tốt.

Khó khăn nằm ở đặc điểm của bệnh, tình trạng gan nền và giai đoạn phát hiện. Với một số loại ung thư, nếu khối u còn nhỏ và được điều trị đúng cách, người bệnh có cơ hội khỏi bệnh hoặc sống lâu dài. Trong khi đó, ung thư gan thường xuất hiện trên nền gan đã bị tổn thương bởi viêm gan mạn tính hoặc xơ gan. Điều này khiến việc lựa chọn phương pháp điều trị trở nên phức tạp hơn.

Cùng một phương pháp, hiệu quả có thể khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, chức năng gan và thể trạng của từng người. Khi ung thư được phát hiện ở giai đoạn muộn, các lựa chọn điều trị có thể bị hạn chế, tiên lượng thường kém hơn và chi phí điều trị cũng là gánh nặng đáng kể, GS Khoa thông tin.

Vì vậy, theo chuyên gia, vấn đề quan trọng không chỉ là phát triển thêm các kỹ thuật điều trị mà còn phải phát hiện bệnh sớm, xác định chính xác giai đoạn và lựa chọn phương pháp phù hợp cho từng bệnh nhân.

Một trong những nguyên nhân khiến nhiều người chưa được hưởng lợi tối đa từ các tiến bộ y học là công tác sàng lọc, theo dõi nhóm nguy cơ cao chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

GS Khoa dẫn kinh nghiệm từ Nhật Bản, nơi việc theo dõi sức khỏe, khám lâm sàng, siêu âm gan và xét nghiệm máu được kết hợp trong quy trình đánh giá nguy cơ. Theo ông, việc tổ chức theo dõi có hệ thống, đặc biệt ở những nhóm có nguy cơ cao, là kinh nghiệm Việt Nam cần quan tâm.

Theo dõi nhóm nguy cơ cao sớm

TTƯT.PGS.TS.BSCC Trần Đình Hà, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Xạ trị và Y học hạt nhân Quốc tế Phương Đông, nhấn mạnh vai trò của việc theo dõi sức khỏe định kỳ đối với người mắc viêm gan virus mạn tính.

Theo chuyên gia, viêm gan virus B và C là những yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư biểu mô tế bào gan. Người đã biết mình mắc viêm gan mạn tính cần tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ, kiểm tra sức khỏe định kỳ và theo dõi những thay đổi của tình trạng gan. Việc giám sát phù hợp có thể giúp phát hiện sớm những tổn thương đáng ngờ, từ đó tăng cơ hội can thiệp kịp thời.

Ngược lại, nếu không được theo dõi hoặc chỉ đi khám khi xuất hiện triệu chứng rõ rệt, người bệnh có thể bỏ lỡ giai đoạn điều trị thuận lợi. Khi bệnh tiến triển, việc điều trị thường phức tạp hơn và tiên lượng cũng bị ảnh hưởng.

Ngoài viêm gan virus, các yếu tố liên quan đến lối sống, môi trường, chế độ ăn uống và sử dụng rượu bia cũng cần được quan tâm trong phòng ngừa ung thư. Tuy nhiên, không nên mặc định mọi trường hợp ung thư gan đều xuất phát từ cùng một nguyên nhân; nguy cơ của từng người cần được đánh giá dựa trên tiền sử bệnh và các yếu tố liên quan.

Việc theo dõi nhóm nguy cơ cao sớm viêm gan virus, quản lý tốt bệnh gan mạn tính, hạn chế rượu bia và tăng cường theo dõi nhóm nguy cơ cao là những hướng đi quan trọng. Với ung thư gan, phát hiện sớm không chỉ giúp mở rộng lựa chọn điều trị mà còn có thể tạo ra khác biệt lớn đối với tiên lượng của người bệnh.

Theo Ngọc Minh

Đời sống & Pháp luật

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên