'Kim cương đen' của Việt Nam lên ngôi giữa 'cơn khát' năng lượng - Tăng mạnh hơn 100% về lượng, Nhật Bản, Indonesia tranh mua
Dưới tác động của khủng hoảng năng lượng tại Trung Đông, xuất khẩu than của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2026 ghi nhận mức tăng trưởng đột biến, mang về hơn 50 triệu USD.
- 14-04-2026Việt Nam vừa đón tin cực vui từ Mỹ và châu Âu
- 13-04-2026Một quốc gia niêm phong các thùng chứa ở lớp đá 1,9 tỷ năm tuổi: Hy vọng chúng sẽ ở đó hàng thiên niên kỷ
- 13-04-2026Trung Quốc, Trung Đông báo tin vui đến Việt Nam

Số liệu thống kê từ Cục Hải quan cho thấy hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 3 đạt tổng giá trị hơn 46,43 tỷ USD, tăng trưởng 40% so với tháng trước đó. Tính chung quý 1, tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt 122,92 tỷ USD và tăng 19% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong bức tranh chung đó, mặt hàng than đá nổi lên như một điểm sáng với những biến động mạnh mẽ về cả sản lượng lẫn giá trị kinh tế.
Riêng tháng 3, Việt Nam đã xuất khẩu được 97.899 tấn than các loại, thu về 16,11 triệu USD. Mặc dù kết quả có sự sụt giảm lần lượt là 30,3% về lượng và 24,2% về giá trị so với tháng 2, nhưng tính tổng thể cả quý 1, ngành than vẫn đạt mức tăng trưởng đột biến.
Cụ thể, tổng lượng than xuất khẩu quý 1 đạt 323.546 tấn với trị giá 50.09 triệu USD, tăng mạnh 117,2% về lượng và 82,5% giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Xuất khẩu than đá của Việt Nam tăng mạnh trong quý 1/2026.
Thị trường tiêu thụ than của Việt Nam trong giai đoạn này tập trung chủ yếu tại khu vực châu Á.
Indonesia dẫn đầu danh sách các quốc gia nhập khẩu với khối lượng 110.471 tấn. Nhật Bản đứng ở vị trí thứ hai khi nhập khẩu 78.237 tấn than. Philippines cũng là một khách hàng lớn với sản lượng 65.000 tấn.
Ngoài ra, Việt Nam còn xuất khẩu than sang nhiều thị trường khác như Nam Phi với 21.600 tấn và Thái Lan với 24.365 tấn. Các thị trường như Hà Lan, Hàn Quốc và Lào cũng ghi nhận những đơn hàng nhập khẩu than từ Việt Nam với số lượng ít hơn.
Theo dự đoán, nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng đột biến này có thể đến từ những biến động địa chính trị phức tạp tại khu vực Trung Đông.
Cuộc xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran vào cuối tháng 2 đã khiến eo biển Hormuz rơi vào tình trạng gần như đóng cửa hoàn toàn. Đây là tuyến đường vận chuyển huyết mạch chiếm 20% lượng dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của toàn thế giới.
Khi nguồn cung LNG bị đứt gãy, nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và châu Á nói riêng buộc phải quay lại sử dụng than đá như một giải pháp thay thế an toàn, tiết kiệm, để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Các quốc gia châu Á đang quay lại sử dụng điện than như một giải pháp đảm bảo an ninh năng lượng.
Hàn Quốc đã quyết định trì hoãn việc đóng cửa các nhà máy nhiệt điện than và dỡ bỏ giới hạn sản lượng điện từ nguồn này. Thái Lan và Philippines cũng đẩy mạnh hoạt động của các nhà máy điện than để đối phó với tình trạng khẩn cấp. Tại Ấn Độ, chính phủ đã yêu cầu các nhà máy than vận hành hết công suất để chuẩn bị cho nhu cầu điện tăng cao vào mùa hè.
Bối cảnh này đã đẩy nhu cầu nhập khẩu than từ các nguồn cung ổn định như Việt Nam lên cao.
Việt Nam sở hữu tiềm năng tài nguyên than đá rất lớn với tổng trữ lượng ước tính khoảng 50 tỷ tấn. Phần lớn trữ lượng này tập trung tại bể than Sông Hồng và vùng Đông Bắc thuộc tỉnh Quảng Ninh.
Trữ lượng có khả năng khai thác công nghiệp hiện vào khoảng 3,6 đến 3,7 tỷ tấn với loại than Anthracite chất lượng cao chiếm ưu thế. Tuy nhiên, việc khai thác đang gặp nhiều thách thức do than nằm ở độ sâu lớn.
Ngành than cần áp dụng các kỹ thuật tiên tiến và công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả khai thác đồng thời đảm bảo công tác bảo vệ môi trường trong tương lai.
An ninh tiền tệ