MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Lý do ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động

| | Tài chính - ngân hàng

Một ngân hàng quốc doanh tăng lãi suất lần thứ 2 trong tháng. Động thái này không chỉ giúp ngân hàng quốc doanh dẫn đầu nhóm Big4 về lãi suất tiết kiệm mà còn phản ánh áp lực huy động vốn ngày càng lớn của hệ thống ngân hàng. Theo chuyên gia, mặt bằng lãi suất hiện nay đang ở vùng cao nhất nhiều năm và khó có khả năng giảm mạnh trong những tháng cuối năm.

Lãi suất huy động lập mặt bằng mới

Một ngân hàng nhóm quốc doanh vừa điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở nhiều kỳ hạn. Theo biểu lãi suất mới, các khoản tiền gửi trực tuyến kỳ hạn từ 6-11 tháng và 13-36 tháng được áp dụng mức lãi suất 7,2%/năm, tăng thêm 0,6% đối với kỳ hạn 6-12 tháng và tăng 0,4% đối với kỳ hạn 13-36 tháng. Riêng kỳ hạn 12 tháng được niêm yết ở mức 7,4%/năm. Đây là lần tăng lãi suất thứ hai của ngân hàng này kể từ đầu tháng 6. Sau hai đợt điều chỉnh liên tiếp, đây là ngân hàng có mức lãi suất tiết kiệm truyền thống trực tuyến cao nhất trong nhóm Big4.

Vietcombank đang áp dụng sản phẩm tiết kiệm rút gốc linh hoạt với lãi suất lên tới 7,4%/năm cho kỳ hạn 12 tháng.

Một ngân hàng nhóm big 4 tăng mạnh lãi suất trở lại.

Không chỉ nhóm ngân hàng quốc doanh, các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân cũng đang đẩy mạnh cuộc đua huy động vốn. Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất dao động từ 4,9 - 7%/năm. MBV dẫn đầu với mức 7%/năm, theo sau là PGBank 6,9%/năm, LPBank 6,8%/năm và Bac A Bank 6,85%/năm.

Đối với kỳ hạn 12 tháng, nhiều ngân hàng như MBV, PGBank và VIB cùng niêm yết mức 7%/năm. Một số ngân hàng khác như LPBank, Bac A Bank và OCB cũng duy trì lãi suất xấp xỉ 6,9%/năm.

Tuy nhiên, đây là mức lãi suất niêm yết của ngân hàng còn mức lãi suất thỏa thuận, cộng thêm các ngân hàng có thể lên tới cao nhất hơn 9%/năm kỳ hạn 12 tháng.

Việc nhiều ngân hàng liên tiếp nâng lãi suất huy động cho thấy nhu cầu vốn của hệ thống đang gia tăng đáng kể khi tốc độ huy động chưa theo kịp tốc độ cho vay.

Kịch bản nào từ nay đến cuối năm?

Trao đổi với PV Tiền Phong , TS. Trần Thị Mai Thành - Giảng viên Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội - cho rằng, việc lãi suất huy động liên tục tăng và neo ở mức cao không phải là hiện tượng bất thường mà phản ánh những thay đổi quan trọng của nền kinh tế.

Theo bà Thành, ngân hàng không tăng lãi suất vì mong muốn mà do áp l ực đảm bảo thanh khoản và đáp ứng nhu cầu tín dụng ngày càng lớn. Sau thời kỳ lãi suất thấp kéo dài, người dân hiện có nhiều lựa chọn đầu tư hấp dẫn hơn như vàng, bất động sản hay chứng khoán. Điều này khiến dòng tiền gửi ngân hàng không còn tăng trưởng mạnh như trước, buộc các tổ chức tín dụng phải nâng lãi suất để giữ chân khách hàng.

Bên cạnh đó, chi phí vốn trên thị trường liên ngân hàng và thị trường trái phiếu cũng tăng lên đáng kể. Khi thanh khoản hệ thống không còn quá dồi dào, các ngân hàng không thể phụ thuộc vào nguồn vốn giá rẻ từ thị trường liên ngân hàng mà phải quay trở lại cạnh tranh huy động từ dân cư và doanh nghiệp.

Một nguyên nhân quan trọng khác đến từ áp lực lạm phát. Khi giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng lên, người gửi tiền sẽ so sánh lợi tức tiền gửi với mức tăng chi phí sinh hoạt thực tế. Nếu lãi suất tiết kiệm quá thấp, tiền đồng sẽ giảm sức hấp dẫn so với vàng, ngoại tệ hay các loại tài sản khác. Do đó, để duy trì dòng vốn trong hệ thống, lãi suất huy động cần đảm bảo mức sinh lời thực dương ở mức hợp lý.

Theo TS. Trần Thị Mai Thành, việc lãi suất tăng cũng phản ánh một vấn đề mang tính cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay, tăng trưởng vẫn phụ thuộc rất lớn vào tín dụng ngân hàng trong khi các kênh dẫn vốn dài hạn như thị trường trái phiếu doanh nghiệp hay thị trường chứng khoán chưa phát triển tương xứng. Khi nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế tăng cao, áp lực lên hệ thống ngân hàng là điều khó tránh khỏi.

Dự báo từ nay đến cuối năm, chuyên gia cho rằng khả năng giảm mạnh lãi suất huy động là không cao, trừ khi đồng thời xuất hiện ba yếu tố gồm lạm phát hạ nhiệt rõ rệt, thanh khoản hệ thống được cải thiện mạnh và nhu cầu tín dụng suy giảm đáng kể.

“Kịch bản có khả năng xảy ra cao hơn là lãi suất huy động duy trì ở vùng cao nhưng ổn định tương đối. Sau giai đoạn tăng nhanh cuối năm 2025 và đầu năm 2026, mặt bằng lãi suất có thể dao động trong biên độ hẹp và chỉ giảm rất chậm nếu các điều kiện vĩ mô thuận lợi hơn”, TS. Trần Thị Mai Thành nhận định.

Theo chuyên gia, thay vì tìm cách ép lãi suất giảm bằng các biện pháp hành chính , chính sách điều hành nên tập trung xử lý những nguyên nhân gốc rễ như tăng cường nguồn vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường vốn, cải thiện thanh khoản hệ thống và kiểm soát lạm phát. Chỉ khi những áp lực này được giải tỏa, mặt bằng lãi suất mới có thể giảm một cách bền vững.

Theo Ngọc Mai

Tiền phong

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên