Mất 90% tài sản vì cúm gia cầm, người đàn ông miền Tây xây lại doanh nghiệp tiêu thụ 1 triệu quả trứng mỗi ngày
Tới khu vực trưng bày trứng của phần lớn các siêu thị, cửa hàng tiện lợi tại khu vực miền Nam, người tiêu dùng sẽ thấy thương hiệu trứng V.Food của Vĩnh Thành Đạt ngập tràn các kệ. Từ một vựa trứng nhỏ ở khu vực Chợ Lớn, trải qua nhiều biến cố, đến nay Vĩnh Thành Đạt đã tiêu thu 1 triệu quả trứng mỗi ngày.
Hiện nay, sản phẩm trứng mang thương hiệu V.Food của Vĩnh Thành Đạt đã hiện diện rộng rãi tại các hệ thống siêu thị và chuỗi bán lẻ lớn nhỏ trên khắp khu vực miền Nam. Từ các siêu thị hiện đại đến các cửa hàng thực phẩm tiện lợi, sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng phủ sóng mạnh mẽ
Vĩnh Thành Đạt hiện vận hành nhà máy xử lý và đóng gói trứng tại Quận 12 (TP.HCM), đồng thời đang mở rộng năng lực sản xuất với nhà máy mới tại Sóc Trăng có diện tích khoảng 5.000 m² và dự kiến nâng lên 10.000 m² trong thời gian tới. Tổng nhân sự toàn hệ thống hiện đạt khoảng 500 người. Hiện Vĩnh Thành Đạt đang liên kết với khoảng 20 trang trại gà và gần 50 trang trại vịt, tạo nên mạng lưới cung ứng trải dài nhiều địa phương.
Ông Trương Chí Thiện, Tổng giám đốc Công ty CP Vĩnh Thành Đạt đã chia sẻ với chúng tôi về thị trường trứng, câu chuyện kinh doanh của Vĩnh Thành Đạt, chuyện FDI trong ngành…

Chào ông, thị trường trứng Việt Nam hiện nay đang thay đổi như thế nào, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống bán lẻ hiện đại ngày càng phát triển?
Ngành trứng có một đặc thù là biên lợi nhuận tương đối thấp vì sản phẩm chủ yếu vẫn là nông sản sơ chế và đóng gói. Vì vậy, sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào quy mô mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng vận hành và kiểm soát chi phí.
Những năm gần đây, hệ thống bán lẻ hiện đại phát triển nhanh, tạo cơ hội cho các thương hiệu mở rộng độ phủ. Tuy nhiên, để hiện diện rộng trong siêu thị, cửa hàng tiện lợi hay các chuỗi bán lẻ hiện đại, doanh nghiệp phải đầu tư đáng kể cho sản xuất, logistics, truy xuất nguồn gốc, quản lý chất lượng và đội ngũ vận hành.
Trong khi đó, trứng tươi là mặt hàng có tính cạnh tranh rất cao. Ngoài các doanh nghiệp lớn còn có rất nhiều kênh phân phối truyền thống, điểm bán nhỏ lẻ hay thương lái địa phương với chi phí vận hành thấp hơn đáng kể. Vì vậy, doanh nghiệp nào kiểm soát tốt chi phí, xây dựng được hệ thống phân phối hiệu quả và tạo được niềm tin với người tiêu dùng sẽ có nhiều cơ hội mở rộng thị phần hơn.
Nhu cầu tiêu dùng và cạnh tranh của ngành trứng những năm gần đây có gì thay đổi?
Về dài hạn, nhu cầu tiêu thụ trứng tại Việt Nam vẫn tăng trưởng rất tích cực. Hiện mức tiêu thụ bình quân đầu người vào khoảng 180-190 quả mỗi năm, trong khi cách đây 5-7 năm con số này chưa tới 100 quả.
Tuy nhiên, nếu so với Nhật Bản hay Trung Quốc, nơi người dân tiêu thụ khoảng 300-350 quả mỗi năm, thì Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá lớn. Điều đó cho thấy dư địa phát triển của ngành trứng trong nước còn rất nhiều.
Đây cũng là lý do ngày càng có nhiều doanh nghiệp FDI quan tâm và đầu tư vào ngành trứng Việt Nam.
KHÔNG CHỈ LÀ QUẢ TRỨNG
“Trứng nhân đạo” đang nhận được nhiều sự quan tâm. Mô hình này khác gì so với chăn nuôi truyền thống?
Năm 2022, Vĩnh Thành Đạt đưa ra thị trường dòng trứng gà đạt chuẩn chăn nuôi nhân đạo quốc tế do tổ chức HFAC của Mỹ chứng nhận.
Khác với mô hình chăn nuôi truyền thống, gà mái được nuôi trong môi trường bán tự nhiên, có không gian vận động rộng hơn và được bảo đảm các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về dinh dưỡng, sức khỏe cũng như điều kiện sống.
Rào cản lớn nhất hiện nay là giá thành. Khi mới triển khai ở quy mô nhỏ, giá thành trứng gà nhân đạo cao hơn khoảng 30% so với trứng thông thường. Nhờ mở rộng quy mô và tối ưu quy trình sản xuất, mức chênh lệch hiện đã giảm xuống khoảng 20%.
Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng quy mô để kéo giảm chi phí, qua đó giúp sản phẩm tiếp cận được nhiều người tiêu dùng hơn.
Bên cạnh trứng tươi, Vĩnh Thành Đạt cũng đang phát triển trứng gà lỏng. Vì sao doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này?
Trứng gà lỏng ra đời hoàn toàn từ nhu cầu của khách hàng doanh nghiệp. Có 3 loại trứng lỏng: trứng hoàn toàn là lòng trắng, trứng hoàn toàn là lòng đỏ và trứng hỗn hợp cả lòng đỏ và lòng trắng. Tùy vào nhu cầu sử dụng, khách hàng có thể chọn loại phù hợp.
Đối tượng sử dụng chủ yếu là các nhà máy sản xuất bánh kẹo, sốt mayonnaise, doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, đơn vị cung cấp suất ăn hàng không hay hệ thống khách sạn, nhà hàng cao cấp. Đây là những khách hàng có yêu cầu rất cao về an toàn thực phẩm và độ chính xác trong quá trình chế biến.
Trước đây, phần lớn nhu cầu trứng lỏng tại Việt Nam phải nhập khẩu dưới dạng đông lạnh. Sau khi chúng tôi đầu tư sản xuất, nhiều doanh nghiệp đã chuyển sang sử dụng nguồn cung trong nước. Hiện đa số các thương hiệu sản xuất sốt mayonnaise lớn tại Việt Nam đang sử dụng sản phẩm trứng lỏng của Vĩnh Thành Đạt.
Tháng 5/2023, chúng tôi xuất khẩu container trứng lỏng đầu tiên sang Hàn Quốc. Hiện mảng này đóng góp khoảng 10% doanh thu của công ty.
Còn trứng ăn liền thì sao, liệu sản phẩm này có thể trở thành đại trà tại Việt Nam?
Tôi cho rằng tiềm năng rất lớn.
Hiện các sản phẩm trứng ăn liền của Vĩnh Thành Đạt đã có mặt tại hầu hết hệ thống siêu thị trên cả nước và phủ gần như toàn bộ các chuỗi cửa hàng tiện lợi.
Xu hướng tiêu dùng nhanh, nhu cầu thực phẩm tiện lợi nhưng giàu dinh dưỡng đang tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm sản phẩm này phát triển mạnh trong tương lai.
Xu hướng các công ty như Vĩnh Thành Đạt là không dừng ở việc bán quả trứng, mà là tiến tới bán giải pháp thực phẩm.
Trước đây doanh nghiệp chủ yếu bán trứng tươi như một nguyên liệu cơ bản. Nhưng khi mức độ cạnh tranh tăng lên và biên lợi nhuận của trứng tươi không cao, doanh nghiệp buộc phải tìm cách gia tăng giá trị sản phẩm.
Trứng thanh trùng, trứng ăn liên và các sản phẩm chế biến sâu ra đời với mục tiêu đơn giản như vậy. Chúng tôi đồng thời cung cấp giải pháp nguyên liệu cho nhà máy thực phẩm, doanh nghiệp suất ăn công nghiệp, khách sạn, nhà hàng hay ngành hàng không.
MỖI NGÀY TIÊU THỤ 1 TRIỆU QUẢ TRỨNG
Tình hình kinh doanh của Vĩnh Thành Đạt hiện nay ra sao?
Năm 2025, hoạt động kinh doanh của công ty tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ sự đóng góp của cả mảng trứng tươi và các sản phẩm chế biến.
Hiện doanh nghiệp vận hành bốn kênh phân phối chính gồm bán lẻ hiện đại, kênh truyền thống, thương mại điện tử và xuất khẩu. Trong đó, kênh bán lẻ hiện đại đóng góp khoảng 50% doanh thu.
Bình quân mỗi ngày, chúng tôi bán từ 800.000 đến 1 triệu quả trứng các loại, bao gồm trứng tươi, trứng gà nhân đạo và các sản phẩm chế biến từ trứng.
Song song với đó, công ty đang đầu tư mở rộng sản xuất tại Sóc Trăng. Nhà máy mới hiện có diện tích khoảng 5.000 m2 và định hướng mở rộng lên khoảng 10.000 m2 trong tương lai.
Hiện tổng quy mô nhân sự của doanh nghiệp tại TP.HCM và miền Tây đạt gần 500 người.
BIẾN CỐ '"THỔI BAY" 90% TÀI SẢN
Để xây dựng được Vĩnh Thành Đạt như ngày nay, ông bắt đầu khởi nghiệp như thế nào?
Đầu những năm 1990, khi còn là sinh viên, tôi nhận thấy nguồn trứng ở miền Tây rất dồi dào trong khi giá bán tại TP.HCM cao hơn đáng kể. Tôi bắt đầu mua trứng từ quê đưa lên thành phố bỏ mối cho các tiểu thương.
Những ngày đó tôi đạp xe chở hàng đi khắp các khu chợ để tìm khách hàng. Sau khi tốt nghiệp đại học ngành tài chính, tôi quyết định nghỉ công việc văn phòng chỉ sau 6 tháng để tập trung hoàn toàn cho ngành trứng.
Năm 1995, tôi mở vựa trứng tại Chợ Lớn. Nhưng bước ngoặt lớn nhất lại đến từ dịch cúm gia cầm năm 2003.

Tuy nhiên, chính trong giai đoạn khó khăn đó, tôi nhìn thấy cơ hội thay đổi ngành trứng. Khi thành phố triển khai chương trình kiểm soát và xử lý trứng an toàn, tôi quyết định tham gia và từ đó thành lập Vĩnh Thành Đạt.
Chúng tôi bắt đầu xử lý, đóng gói trứng theo quy trình hiện đại, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc và từng bước đưa trứng vào hệ thống siêu thị.
Sau đó, tôi sang Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc để học hỏi công nghệ xử lý và bảo quản. Điều tôi nhận ra là mỗi quả trứng hoàn toàn có thể được quản lý và truy xuất nguồn gốc giống như bất kỳ sản phẩm công nghệ nào.
Đó cũng là nền tảng để ngành trứng Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại hơn ngày nay.
Ông kể rõ hơn biến cố cúm gia cầm được không. Cụ thể ông đã mất mát những gì?
Sau hơn 10 năm tích cóp, tôi mất khoảng 90% tài sản sau biến cố đó. Trứng không bán được, hàng tồn kho chất đống, khách hàng nợ tiền cũng không thể trả. Đó là thời điểm tôi nghĩ rằng mình có thể phải bắt đầu lại từ con số không.
Nhưng nhìn lại, chính giai đoạn khó khăn nhất đó lại mở ra cơ hội lớn nhất. Nếu không có cuộc khủng hoảng ấy, có lẽ tôi vẫn chỉ là một người buôn trứng theo cách truyền thống.
Nhờ tham gia chương trình xử lý trứng an toàn của thành phố, tôi nhận ra ngành trứng hoàn toàn có thể phát triển theo hướng hiện đại, có truy xuất nguồn gốc, có kiểm nghiệm chất lượng và có thương hiệu. Đó cũng là tiền đề để Vĩnh Thành Đạt hình thành và phát triển như ngày hôm nay.
Vậy là có thể nói, ông là doanh nhân đi lên từ chợ?
Tôi học được rất nhiều từ môi trường kinh doanh ở Chợ Lớn.
Chợ Lớn dạy tôi cách nhìn thị trường từ nhu cầu thực tế của khách hàng. Người kinh doanh ở đây rất thực tế, rất nhạy với giá cả và đặc biệt coi trọng chữ tín. Chỉ cần giao hàng không đúng hẹn hoặc chất lượng không ổn định thì khách hàng sẽ chuyển sang nhà cung cấp khác ngay.
Chính môi trường đó hình thành cho tôi tư duy phải xây dựng doanh nghiệp dựa trên sự ổn định, uy tín và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường.
Sau này khi phát triển Vĩnh Thành Đạt, dù đầu tư công nghệ hay mở rộng quy mô, chúng tôi vẫn giữ nguyên triết lý đó: phải hiểu khách hàng cần gì và tạo ra sản phẩm giải quyết được nhu cầu thực tế của họ. Việc phát triển trứng nhân đạo hay trứng lỏng cũng xuất phát từ tư duy này.
DOANH NGHIỆP VIỆT VẪN GIỮ LỢI THẾ TRÊN SÂN NHÀ
Nhiều ngành thực phẩm đang chịu cạnh tranh mạnh từ doanh nghiệp FDI, nhưng ngành trứng dường như vẫn là sân chơi của doanh nghiệp nội?
Tôi cho rằng ngành trứng là trường hợp khá đặc biệt.
Mặc dù doanh nghiệp FDI có tiềm lực lớn nhưng Việt Nam hiện có mạng lưới rất rộng các hộ chăn nuôi và doanh nghiệp nội địa. Tổng nguồn cung từ khu vực trong nước vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo.

Bên cạnh đó, cơ cấu sản phẩm của ngành trứng Việt Nam khá đa dạng, gồm trứng gà, trứng vịt, trứng cút và nhiều dòng sản phẩm khác. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp FDI hiện mới tập trung vào mảng trứng gà.
Lợi thế lớn nhất của doanh nghiệp Việt là gì?
Đó là sự am hiểu thị trường và mạng lưới liên kết với nông dân.
Ngành trứng không chỉ là câu chuyện của nhà máy hay công nghệ mà còn gắn chặt với hệ thống nông hộ và các chuỗi liên kết địa phương. Đây là lợi thế giúp doanh nghiệp Việt xây dựng được nguồn cung linh hoạt và đa dạng hơn.
Nếu một tập đoàn nước ngoài muốn vào ngành trứng Việt Nam, điều khó nhất họ sẽ gặp là gì?
Khó khăn lớn nhất là xây dựng được hệ sinh thái nguồn cung phù hợp với đặc thù thị trường Việt Nam.
Ngành trứng không chỉ là câu chuyện của nhà máy hay công nghệ mà còn gắn chặt với hệ thống nông hộ, trang trại và các chuỗi liên kết địa phương. Việc xây dựng mạng lưới cung ứng đủ lớn, ổn định và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng đòi hỏi thời gian rất dài.
Ngoài ra, cơ cấu tiêu dùng của Việt Nam cũng đa dạng hơn nhiều thị trường khác, từ trứng gà đến trứng vịt và các loại trứng gia cầm khác, khiến việc mở rộng thị phần không đơn giản.
Nhìn rộng ra trong khoảng 5 năm tới, theo ông, ngành trứng Việt Nam sẽ có những thay đổi hay xu hướng đáng chú ý nào?
Hiện nay, một số doanh nghiệp nước ngoài đã đầu tư vào lĩnh vực trứng lỏng tại Việt Nam, dù sản phẩm vẫn chưa được đưa ra thị trường. Tôi kỳ vọng nguồn nguyên liệu cho ngành này sẽ chủ yếu đến từ trứng sản xuất trong nước. Dù nhà đầu tư là doanh nghiệp nước ngoài, giá trị tạo ra vẫn đến từ nguồn trứng của Việt Nam.
Về dài hạn, tiềm năng tăng trưởng của ngành vẫn còn rất lớn. Đến năm 2030, mức tiêu thụ trứng bình quân đầu người tại Việt Nam có thể đạt khoảng 250 quả mỗi năm. Vì vậy, tình trạng cung vượt cầu hiện nay chỉ mang tính thời điểm.
Trong tương lai, nhu cầu tiêu thụ sẽ không chỉ đến từ thị trường trứng tươi mà còn mở rộng sang các phân khúc chế biến như trứng lỏng, ngành bánh kẹo, thực phẩm chế biến và dịch vụ ăn uống. Đây cũng là cơ hội để sản phẩm trong nước từng bước thay thế nguồn trứng lỏng nhập khẩu.
An ninh tiền tệ