Ngành ngân hàng - quan điểm đầu tư cuối năm 2009
Những khó khăn từ chính sách tiền tệ làm cho kết quả kinh doanh của các ngân hàng trong thời gian cuối năm đứng ở mức trung bình.
Khi những rủi ro “lơ lửng” hiện tại của ngành ngân hàng được làm rõ thì đó sẽ là thời điểm nên quan tâm trở lại vào cổ phiếu ngân hàng.
Một số khó khăn trước mắt của ngành ngân hàng
Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô vẫn còn nhiều khó khăn, mặc dù các biện pháp kích thích kinh tế đang được thực hiện đã mang lại những kết quả ban đầu, nhưng rủi ro về vĩ mô cũng như rủi ro từ chính sách tiền tệ là những trở ngại lớn cho đà tăng trưởng của ngành ngân hàng trong thời gian cuối năm. Một số nguồn thu chính của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng, cụ thể:
Về nguồn thu từ lãi, nguồn thu chủ đạo, chiếm khoảng 60% thu nhập của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng do tăng trưởng tín dụng chậm lại và lợi nhuận lãi biên bị co hẹp.
Tăng trưởng tín dụng trong 9 tháng đầu năm đã đạt 28%, rất gần với mục tiêu 30% mà NHNN đã đặt ra để kiểm soát lạm phát, vì vậy tăng trưởng tín dụng trong quý IV sẽ ở mức thấp, chỉ ở khoảng 2-4%.
Lãi suất huy động đã tăng liên tục kể từ cuối tháng 5/2009. Đến đầu tháng 9/2009, mặc dù Hiệp hội ngân hàng đã đạt được sự đồng thuận dừng cuộc đua huy động lãi suất, nhưng sau đó các NHTM vẫn phải tăng lãi suất để chuẩn bị nguồn vốn cho nhu cầu tín dụng cuối năm cũng như tạo sức hút tiền gửi trong bối cảnh TTCK và bất động sản đang sôi động.
Trong 9 tháng đầu năm 2009, lãi suất cho vay bị khống chế ở mức 10,5% (150% của lãi suất cơ bản) và khả năng tăng lãi suất trong năm 2009 là rất nhỏ. Hoạt động cho vay tiêu dùng, vốn được áp dụng lãi suất thỏa thuận (vượt 10,5%) lại đang bị NHNN kiểm soát chặt do có dấu hiệu nhiều khoản cho vay tiêu dùng thời gian đầu năm đã sử dụng sai mục đích để đầu từ vào các lĩnh vực nhiều rủi ro như chứng khoán và bất động sản.
Mặc dù các NHTM bằng nhiều cách vẫn có thể thu thêm các khoản phí để tận thu, nhưng các khoản phí này không thể cao do quyết định cấm các khoản phí liên quan đến cho vay của NHNN vẫn còn hiệu lực.
Lãi suất cho vay bị khống chế trong khi lãi suất huy động tăng cao là nguyên nhân làm cho lợi nhuận lãi biên của ngân hàng giảm sút. Cộng hưởng với đà tăng trưởng tín dụng chậm lại trong quý 4, nguồn thu từ lãi của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng.
Nguồn thu từ hoàn nhập dự phòng và kinh doanh vàng sẽ không còn cao như hồi đầu năm do đà tăng của TTCK đã chậm lại và giá vàng không còn biến động mạnh như trước:
TTCK trong quý III đã tăng 35%, thấp hơn quý II (48%), chưa kể mức tăng từ đáy lên đỉnh của quý II là 117% trong khi quý 3 này chỉ là 41%, nên các khoản hoàn nhập dự phòng trong quý III sẽ giảm đáng kể và sẽ còn thấp hơn trong quý IV.
Nguồn thu từ vàng dự báo sẽ giảm trong quý III/2009 do thị trường vàng trầm lắng trong hầu hết thời gian này. Giá vàng chỉ có một đợt tăng trong đầu tháng 9 rồi sau đó giữ ổn định cho đến cuối tháng.
Những ngày đầu tháng 10, giá vàng mới tăng mạnh lên hơn 1.050 USD/ounce. Với diễn biến giá vàng như vậy thì nguồn thu từ kinh doanh vàng trong quý 3 có thể sẽ không cao hơn quý II.
Chi phí vào cuối năm sẽ tăng cao do vào cuối năm các ngân hàng sẽ phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đầy đủ hơn thời gian đầu năm. Trong bối cảnh kinh tế vẫn còn khó khăn, tỷ lệ nợ xấu chắc chắn sẽ tăng và làm tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Ngoài ra chi phí tiền lương, khoản chi phí hoạt động lớn nhất của các ngân hàng cũng sẽ tăng mạnh trong quý cuối năm.
Một số yếu tố tích cực
Tuy nhiên, nếu nhìn vào một số yếu tố tích cực thì có thể thấy các ngân hàng vẫn có những nguồn thu ổn đỉnh, chưa kể vẫn có khả năng có nguồn thu đột biến trong thời gian cuối năm.
Lợi nhuận từ tự doanh chứng khoán của các ngân hàng trong quý III và quý IV có thể được duy trì do xu hướng thị trường rõ ràng hơn trong nửa cuối quý II đã thúc đẩy việc giải ngân vào đầu tư cổ phiếu. Nguồn thu phí từ dịch vụ thanh toán, phí liên quan đến xuất nhập khẩu sẽ cải thiện trong thời gian cuối năm do các hoạt động kinh tế và xuất nhập khẩu sôi động hơn nhờ đà hồi phục kinh tế trong nước và thế giới. Ngoài ra, phí môi giới chứng khoán và giao dịch vàng cũng sẽ được duy trì ở mức tốt.
Những khoản đầu tư góp vốn hay bán dự án/tài sản cố định có thể đem lại lợi nhuận đột biến cho ngân hàng. Hiện tại các ngân hàng đều đang sở hữu một lượng lớn đầu tư tài chính vào cổ phiếu và bất động sản.
Vietcombank và ACB đang nắm cổ phần của nhiều ngân hàng và công ty cổ phần ở mức giá thấp. Vietinbank đang nắm giữ nhiều bất động sản có giá trị thực cao hơn nhiều so với giá trị sổ sách. Nếu như các ngân hàng này bán ra các tài sản trên hoặc định giá lại để góp vốn thì lợi nhuận thu được là không nhỏ. Tuy nhiên nếu điều này xảy ra chỉ là một hành động đơn lẻ và sẽ không nhằm mục đích là tạo lợi nhuận đột biến.
Nguyên nhân chính là các ngân hàng hiện tại đang phải cạnh tranh rất quyết liệt để giữ thị phần nên năng lực cạnh tranh và thị phần mới là trọng tâm phát triển của ngân hàng chứ không phải những khoản lợi nhuận nhất thời.
Các khoản đầu tư tài chính và bất động sản của các ngân hàng ngoài giá trị tài chính còn có giá trị trong việc duy trì mạng lưới đối tác và chi nhánh, một yếu tố quan trọng để duy trì năng lực cạnh tranh. Trong thời gian qua, chúng tôi chỉ ghi nhận một vài trường hợp đơn lẻ về việc bán các khoản đầu tư này và hầu hết đều không nhằm tạo ra lợi nhuận đột biến.
Kết luận
Những khó khăn từ chính sách tiền tệ làm cho kết quả kinh doanh của các ngân hàng trong thời gian cuối năm đứng ở mức trung bình, khả năng có nguồn thu đặc biệt tạo đột biến là nhỏ. Xét riêng về yếu tố tăng trưởng và hoàn thành kế hoạch thì chắc chắn rằng các ngân hàng đều có thể hoàn thành kế hoạch và có tăng trưởng so với năm 2008.
Tuy nhiên, kết quả kinh doanh không có đột biến so với kỳ vọng cộng với rủi ro từ việc giảm bớt nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ làm cho ngành ngân hàng không hấp dẫn bằng các ngành khác có tăng trưởng và kết quả kinh doanh ấn tượng vào cuối năm.
Giá cổ phiếu của ngân hàng đã không tăng trong một thời gian khá dài, 4/5 cổ phiếu ngân hàng có mặt bằng giá tháng 9 thấp hơn so với tháng 8 trong khi VN-Index đã tăng hơn 20%. Có thể thấy, những rủi ro vĩ mô đã phần nào đó đã được phản ánh vào giá.
Cuối năm 2009, đầu năm 2010, dự báo chính sách tiền tệ sẽ theo hướng giảm bớt nới lỏng, gói kích thích kinh tế và hỗ trợ lãi suất (nếu có) sẽ giảm bớt về quy mô. Lãi suất cơ bản sẽ được cân nhắc tăng và chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2010 sẽ giữ ở khoảng 30% để kiểm soát lạm phát. Khi đó những rủi ro về chính sách vĩ mô đối với ngành ngân hàng sẽ trở nên rõ ràng hơn.
Trong khi đó, lợi nhuận của các ngân hàng có khả năng được cải thiện nếu lãi suất cơ bản tăng tạo điều kiện cho ngân hàng nâng lãi suất cho vay. Khi những rủi ro “lơ lửng” hiện tại được làm rõ thì đó sẽ là thời điểm nên quan tâm trở lại vào cổ phiếu ngân hàng. Ở thời điểm hiện tại, nhà đầu tư quan tâm đến cổ phiếu ngân hàng nên có quan điểm đầu tư dài hạn, nhà đầu tư ngắn hạn lướt sóng sẽ khó tìm được cơ hội ở cổ phiếu ngân hàng và rất có thể sẽ gặp rủi ro T+4.
Theo Bộ phận phân tích SSI
CÙNG CHUYÊN MỤC
Ra lệnh bắt tạm giam Nguyễn Văn Tuấn
14:11 , 10/06/2026R&H Group bị xử phạt liên quan đến trái phiếu
13:50 , 10/06/2026Hóa chất Đức Giang muốn chuyển nhượng nhà máy cồn từng mua 2 năm trước
13:49 , 10/06/2026