MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Việt Nam có sự thay đổi lớn chưa từng có: Từ 4 năm chờ đợi nay chỉ cần 10 ngày để làm một việc

MT | 08-04-2026 - 17:55 PM | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

TS. Nguyễn Đình Cung đã có chia sẻ như thế nào về sự cởi trói cho doanh nghiệp tư nhân?

Việt Nam có sự thay đổi lớn chưa từng có: Từ 4 năm chờ đợi nay chỉ cần 10 ngày để làm một việc- Ảnh 1.

Chia sẻ về những quyết định đã thực sự giải phóng sức sản xuất của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân, TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng mốc 2000 là thời điểm khu vực tư nhân được "cởi trói" rõ rệt nhất về quyền tự do kinh doanh. Trước đó, doanh nghiệp về cơ bản vẫn chỉ được làm những gì cơ quan nhà nước cho phép. Sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, tư duy thay đổi căn bản: quyền kinh doanh là quyền của người dân, người dân thành lập doanh nghiệp là chuyện đương nhiên, không phải đi "xin".

Trong Luật Doanh nghiệp 1999 không có từ "xin" và trong thiết kế hồ sơ sau này cũng vậy. Giấy tờ trước đây gọi là "xin phép thành lập" được chuyển đổi thành "giấy đề nghị đăng ký thành lập doanh nghiệp", vị chuyên gia này cho biết.

Sau đó là một cuộc cách mạng về thủ tục hành chính trong thành lập doanh nghiệp. “Doanh nghiệp từng mất 6 tháng đến 3-4 năm để làm thủ tục thành lập, nay chỉ còn 10 ngày làm việc, chi phí thành lập từ khoảng mấy chục lần GDP/người thời điểm đó, rút xuống còn 200.000 đồng, hồ sơ thủ tục đi xin từ một tập dày nộp cho tổ dân phố đến UBND tỉnh, nay chỉ còn bốn loại hồ sơ đơn giản”, TS. Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.

Nhưng sâu xa hơn, điều quan trọng nhất là Luật Doanh nghiệp xác lập nguyên tắc rất hiện đại: doanh nghiệp được kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm. Đó mới là tinh thần cốt lõi của kinh tế thị trường, đồng thời là nền tảng để chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và mở rộng tối đa không gian cho khu vực tư nhân phát triển.

Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Đình Cung, những luật chuyên ngành sau đó đã "gặm nhấm" những thành quả cải cách mà Luật Doanh nghiệp tạo ra, đem nhiều giấy phép con với hoạt động kinh doanh quay trở lại. Bên cạnh đó, thay vì tiếp tục mở rộng không gian cho khu vực tư nhân, có thời điểm chúng ta đặt kỳ vọng lớn vào mô hình các tập đoàn kinh tế Nhà nước, để tăng trưởng mạnh. Mục tiêu là tốt, nhưng công cụ lại không phù hợp, khiến nền kinh tế vĩ mô gặp khó khăn trong một thời gian.

Thực tế, từ năm 2007, hội nhập quốc tế của Việt Nam đi rất nhanh, nhưng cải cách trong nước lại chững lại. Đổi mới kinh tế Việt Nam giống như hai cánh của một con chim: một cánh là cải cách trong nước, một cánh là hội nhập quốc tế. Hai cánh phải cùng mạnh thì mới bay cao, bay xa. Nhưng giai đoạn đó, chúng ta nghiêng quá mạnh về hội nhập, trong khi cánh cải cách trong nước bắt đầu gặp một số vấn đề.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, vấn đề đặt ra không chỉ là tiếp tục khơi thông không gian cho động lực phát triển, mà còn phải tái khẳng định vị thế của khu vực này trong mô hình tăng trưởng quốc gia. Đó cũng là lý do Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân ra đời và được nhìn nhận như một bước ngoặt mới về tư duy đối với khu vực này.

TS. Nguyễn Đình Cung cho biết, trước tiên, phải khẳng định rằng, Nghị quyết 68 là một đột phá về mặt tư duy trong việc chuyển đổi sang kinh tế thị trường và phát triển kinh tế tư nhân. Lần đầu tiên trong một Nghị quyết của Đảng, kinh tế tư nhân được thừa nhận vai trò đáng có của nó trong nền kinh tế đất nước.

Còn về từ "một động lực quan trọng nhất" thì mình tham gia rất nhiều cuộc họp nên hiểu và chia sẻ vì sao lại có từ "Một" đó. Tuy nhiên, phải đọc hết các câu phía sau của Nghị quyết 68 và nghe các phát biểu của các lãnh đạo thì có thể thấy vai trò thực sự của kinh tế tư nhân được định nghĩa thế nào.

"Với những vai trò như thế, vị thế đáng có của kinh tế tư nhân đã đạt đến đỉnh cao rồi, không còn gì hơn nữa. Về căn bản, các nước có kinh tế thị trường đầy đủ cũng chỉ thế thôi!", TS. Nguyễn Đình Cung chia sẻ.

MT

Nhịp sống thị trường

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên