Hơn 155.000 doanh nghiệp rút khỏi thị trường: Tứ bề sức ép?
7 tháng đầu năm, cứ 10 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường thì chỉ có khoảng 12 doanh nghiệp gia nhập hoặc quay trở lại. Trong bối cảnh chi phí, vốn và yêu cầu thị trường cùng gia tăng, doanh nghiệp đang phải thay đổi để tồn tại, đồng thời tìm kiếm những cơ hội mới từ xuất khẩu và gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu.
- 18-08-202620 doanh nghiệp Việt bị điều tra chống bán phá giá thép không gỉ cán nguội
- 18-08-2026Cần lộ trình giảm giờ làm xuống 40-44 giờ/tuần, tránh sốc cho doanh nghiệp
- 18-08-2026VETC, ePass thu phí 6.600 đồng/tháng với cá nhân, 66.000 đồng/tháng với doanh nghiệp
Bài toán vốn chưa bao giờ dễ dàng
Theo Cục Thống kê - Bộ Tài chính, 7 tháng đầu năm nay, cả nước có hơn 187.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi hơn 155.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Như vậy, 10 doanh nghiệp rút lui thì có khoảng 12 doanh nghiệp gia nhập thị trường.
Đáng chú ý, tỷ lệ này nếu so với năm 2020 - thời điểm nền kinh tế chịu cú sốc COVID-19, còn có phần kém tích cực. Khi đó, 179.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, so với hơn 100.000 doanh nghiệp rút lui, tương đương 10 doanh nghiệp rút lui vẫn có khoảng 18 doanh nghiệp gia nhập.
Dù cú sốc đại dịch đã lùi xa, sức ép lên khu vực doanh nghiệp vẫn tiếp diễn, trong bối cảnh chi phí, vốn, thị trường và môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi.
Với các doanh nghiệp nhỏ, vừa, bài toán vốn chưa bao giờ dễ dàng. Đặc thù ngành nghề càng khiến việc tiếp cận vốn khó khăn. Trong lĩnh vực nông nghiệp, ông Bùi Khánh Dũng - Tổng Giám đốc Công ty Musa Pacta - cho biết, việc chứng minh tài sản để thế chấp vay vốn là vấn đề rất lớn, bởi cây trồng có thể là tài sản doanh nghiệp đầu tư, nhưng giấy tờ về đất lại thuộc về người khác.
Doanh nghiệp mong gỡ nút thắt về vốn để phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Ảnh minh họa.
Hiện tại, doanh nghiệp của ông Dũng có khoản vay với lãi suất thấp nhất khoảng 7,8% tại ngân hàng nông nghiệp, trong khi một số khoản vay thương mại khác lãi suất gần 16%. “Với doanh nghiệp nhỏ, nhu cầu vốn rất lớn nên chỉ cần giảm được một phần lãi suất cũng đã là sự hỗ trợ đáng kể”, ông Dũng chia sẻ.
Từ góc nhìn doanh nghiệp sản xuất, ông Lê Mai Hữu Lâm - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Sản xuất Thiết bị điện công nghiệp Cát Vạn Lợi - cho biết: "Doanh nghiệp hiện nay đang ở trong tình trạng ‘tứ bề thọ địch’. Trong nước, chi phí tuân thủ ngày càng cao. Những khoản chi trước đây có thể bị xem nhẹ thì nay phải thực hiện đầy đủ. Dù đây là những thay đổi cần thiết để môi trường kinh doanh minh bạch hơn, nhưng trong ngắn hạn cũng tạo thêm áp lực, nhất là với doanh nghiệp vừa và nhỏ”.
Doanh nghiệp sản xuất cho biết, nếu quản trị tốt, biên lợi nhuận không quá 10%, trong khi lãi suất vay hiện lên tới 14-15%/năm. Ảnh: VCL.
Đáng lo ngại hơn là chi phí vốn. Với doanh nghiệp sản xuất, ông Lâm cho rằng, nếu quản trị tốt, biên lợi nhuận không quá 10%, trong khi lãi suất vay hiện tại lên tới 14-15%/năm. Khi chi phí vốn tăng, toàn bộ phương án kinh doanh bị đảo lộn. Trong hoàn cảnh đó, ưu tiên của nhiều doanh nghiệp là bảo toàn vốn, thận trọng hơn với các quyết định.
Tuy nhiên, lãnh đạo Cát Vạn Lợi cho rằng bức tranh không hoàn toàn tiêu cực. Ngược lại, quá trình dịch chuyển chuỗi cung ứng, các tập đoàn quốc tế tìm kiếm thêm địa điểm sản xuất và nguồn cung, cũng mở ra cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam. “Trong nguy luôn có cơ. Theo tôi, đây là thời điểm rất phù hợp để doanh nghiệp Việt Nam bước ra thế giới”, ông Lâm nhận định.
Khó khăn kép
TS. Nguyễn Quốc Việt - giảng viên Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội - nhận định, với những gì đang diễn ra, có thể thấy khu vực doanh nghiệp đang khó khăn hơn so với năm ngoái. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đây không phải câu chuyện chỉ xảy ra trong năm nay.
Theo ông Việt, áp lực đầu tiên đến từ sự gia tăng của chi phí kinh doanh. Những bất ổn kinh tế và địa chính trị toàn cầu, chiến tranh, đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá cả đã khiến chi phí đầu vào tăng cao
“Chi phí nguyên vật liệu, nhân công, đặc biệt là nhân công có chất lượng cao, đều tăng. Trong khi đó, những doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh hạn chế sẽ rất khó cạnh tranh với các doanh nghiệp quy mô lớn hoặc doanh nghiệp FDI, vốn có lợi thế về nguồn lực, đơn hàng và khả năng tham gia các dự án lớn”, ông Việt nói.
Một sức ép khác, theo TS. Nguyễn Quốc Việt, đến từ quá trình thay đổi thể chế và chính sách trong một số trường hợp doanh nghiệp không kịp thích nghi, nguy cơ bị xử phạt cao hơn. Dù các yêu cầu mới về thuế, hóa đơn, chứng từ, chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc... là cần thiết, nhưng lại tạo ra gánh nặng lớn hơn đối với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh. Điều này không chỉ tạo ra tổn thất về tài chính mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và sự tự tin trong đầu tư, kinh doanh.
Đối với những doanh nghiệp có liên kết với thị trường quốc tế, chi phí để đáp ứng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, điều kiện thị trường và các yêu cầu mới đang trở thành một phần ngày càng lớn trong chi phí xuất khẩu.
Bên cạnh đó, bài toán vốn tiếp tục là trở ngại đáng chú ý. Theo ông Việt, dù thị trường vẫn có nguồn vốn, doanh nghiệp đang phải đối mặt với mặt bằng lãi suất và điều kiện tín dụng khó khăn hơn, khiến khả năng tiếp cận bị hạn chế.
Gói tín dụng ưu đãi thuộc chương trình 220.000 tỷ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa kỳ vọng sớm hỗ trợ được nhiều doanh nghiệp. Ảnh minh họa.
Bộ Tài chính đang dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Góp ý nội dung này, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đề nghị không chỉ dừng ở việc “khuyến khích” các tổ chức tín dụng cho vay vốn, mà cần có các cơ chế cụ thể để dòng vốn thực sự đến được khu vực này.
VCCI cũng đề xuất hoàn thiện cơ chế nhận tài sản bảo đảm là máy móc, thiết bị, hàng tồn kho, nguyên vật liệu và khoản phải thu, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất thực nhưng hạn chế về tài sản thế chấp.
Tiền phong