Không phải Nga, quốc gia sở hữu 651 tỷ mét khối LNG vừa vượt mặt Mỹ ở thị trường tỷ dân
Nhập khẩu LNG của Ấn Độ trong tháng 9 giảm 12,7% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 7% so với cùng kỳ năm ngoái. Oman vươn lên dẫn đầu nguồn cung khi dòng chảy LNG toàn cầu thay đổi do khủng hoảng eo biển Hormuz.
- 17-09-2026Không phải Nga, cường quốc sở hữu 13 nghìn tỷ mét khối LNG đang trở thành điểm đến mới của người mua châu Á
- 11-09-2026Đông Nam Á 'khát' LNG
- 08-09-2026Phát hiện tàu chở LNG của ông trùm thế giới vừa rời eo biển Hormuz, hướng thẳng đến một quốc gia châu Á
- 02-09-2026Bị phương Tây trừng phạt gắt gao, hàng chục tàu chở LNG của Nga bất ngờ xuất hiện ngoài khơi, âm thầm thực hiện nhiệm vụ đặc biệt

Theo dữ liệu theo dõi tàu của Kpler, Oman cung cấp 0,59 triệu tấn LNG cho Ấn Độ trong tháng 9, tăng 11,6% so với tháng trước. Nigeria đứng thứ hai với 0,35 triệu tấn, giảm 35,1%, trong khi Mỹ lùi xuống vị trí tiếp theo với 0,34 triệu tấn, giảm 60,7%.
Ở chiều ngược lại, lượng LNG Ấn Độ nhập khẩu từ Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) tăng 27,3% so với tháng 8, lên 0,31 triệu tấn. Nhập khẩu từ Qatar cũng tăng 6,7%, đạt 0,1 triệu tấn, dù vẫn thấp hơn 88,5% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng lượng LNG nhập khẩu của Ấn Độ trong tháng 9 đạt 2,24 triệu tấn, giảm 12,7% so với tháng trước do biến động nhu cầu theo mùa. Tuy nhiên, con số này vẫn cao hơn 7% so với tháng 9/2025, cho thấy nhu cầu nhập khẩu của quốc gia Nam Á tiếp tục duy trì ở mức cao bất chấp những gián đoạn liên quan đến eo biển Hormuz.
Sự thay đổi thứ hạng giữa các nhà cung cấp phản ánh nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung của Ấn Độ khi tuyến vận tải LNG qua eo biển Hormuz đối mặt với nhiều rủi ro. Khác với Qatar và UAE, hoạt động xuất khẩu LNG của Oman không phụ thuộc vào tuyến hàng hải này, giúp nguồn hàng từ Oman trở thành lựa chọn đáng chú ý trong bối cảnh thị trường biến động.
Theo các nguồn tin thương mại và chuyên gia trong ngành, UAE vẫn xuất khẩu được những lô LNG lớn trong thời gian eo biển Hormuz bị phong tỏa, thông qua các biện pháp như tắt thiết bị phát tín hiệu của tàu chở LNG để tránh bị phát hiện và tận dụng các cơ hội vận chuyển dựa trên đánh giá an ninh hàng hải. Qatar cũng thực hiện một số chuyến hàng theo cách này, nhưng UAE được cho là chủ động hơn trong việc chấp nhận rủi ro.
Ấn Độ hiện phụ thuộc vào LNG nhập khẩu để đáp ứng khoảng một nửa nhu cầu khí đốt tự nhiên. Khoảng 60% lượng LNG nhập khẩu của nước này đi qua eo biển Hormuz, chủ yếu từ Qatar và UAE. Vì vậy, những gián đoạn tại tuyến hàng hải này tạo sức ép lớn lên hoạt động bảo đảm nguồn cung, buộc các nhà nhập khẩu tìm kiếm thêm hàng hóa từ những thị trường khác.

Các lô hàng LNG vẫn chảy từ Trung Đông đến thị trường quốc tế, bất chấp xung đôt. Tuy nhiên, số lượng không nhiều.
Xét trong 4 tháng qua, từ tháng 5 đến tháng 9, tổng lượng LNG Ấn Độ nhập khẩu đạt 11,87 triệu tấn, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Sau khi giảm trong tháng 3 và tháng 4, hai tháng đầu tiên của cuộc xung đột tại Tây Á, lượng nhập khẩu đã tăng trở lại trong các tháng tiếp theo.
Mỹ vẫn là nhà cung cấp lớn nhất của Ấn Độ tính chung trong giai đoạn 5 tháng này, với 3,41 triệu tấn, tương đương 28,7% tổng lượng nhập khẩu và tăng gần 175% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, xu hướng các nhà nhập khẩu châu Âu tăng mua hàng trước mùa đông đã làm thay đổi dòng chảy thương mại toàn cầu, khi nhiều tàu LNG của Mỹ chuyển hướng sang châu Âu.
Oman đứng tiếp theo với 2,33 triệu tấn LNG xuất sang Ấn Độ, tăng gần 419% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm gần 20% tổng lượng nhập khẩu. Nigeria cung cấp 2,20 triệu tấn, tăng gần 169%, tương đương 18,5% thị phần.
Trong khi đó, lượng LNG nhập khẩu từ UAE giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 1,11 triệu tấn, chiếm 9,3% tổng lượng nhập khẩu. Qatar ghi nhận mức giảm sâu nhất trong nhóm các nhà cung cấp lớn, với lượng hàng giao đến Ấn Độ giảm 90,2%, còn 0,41 triệu tấn, tương đương 3,4% thị phần.
Nhu cầu trong nước là yếu tố quan trọng giúp Ấn Độ duy trì lượng nhập khẩu LNG ở mức cao. Các lĩnh vực như phân phối khí đốt đô thị, sản xuất phân bón, điện lực và gốm sứ tiếp tục cần nguồn cung khí đốt, trong đó một số ngành phải tăng sử dụng LNG do những hạn chế về nguồn cung nhiên liệu khác.

Ấn Độ là một trong những quốc gia tiêu thụ khí đốt hàng đầu thế giới.
Sonal Ranjan, nhà phân tích LNG và khí tự nhiên tại Kpler, cho biết nhu cầu LNG của Ấn Độ được hỗ trợ bởi sản lượng điện khí đốt tăng, trong bối cảnh nguồn cung thủy điện suy yếu và hệ thống điện than chịu áp lực. Những yếu tố này thúc đẩy nhu cầu khí đốt ngay cả khi giá nhiên liệu tăng cao.
Theo bà Ranjan, nhu cầu LNG của Ấn Độ có thể duy trì ổn định đến cuối năm 2026 nhờ tiêu thụ khí đốt đô thị tăng, trong đó có xu hướng chuyển từ khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) sang khí tự nhiên qua đường ống (PNG), cùng với sự suy giảm sản lượng khí tự nhiên trong nước.
Giá LNG giao ngay tại châu Á tăng cao có thể hạn chế nhu cầu của các ngành công nghiệp nhạy cảm với giá nhiên liệu. Tuy nhiên, nhu cầu cơ bản từ các lĩnh vực như phân phối khí đốt và phân bón vẫn tạo lực đỡ cho hoạt động nhập khẩu.
Trong khi Ấn Độ tiếp tục cạnh tranh để mua các lô hàng trên thị trường quốc tế, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc có xu hướng hạn chế mua LNG khi giá cao, đồng thời chuyển sang các nhiên liệu thay thế. Trung Quốc cũng nhập khẩu LNG từ Nga, trong khi Ấn Độ và phần lớn các nhà nhập khẩu lớn khác không mua LNG từ Nga do các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với các dự án LNG của Moscow.
Trong thời gian tới, những hạn chế kéo dài đối với vận chuyển qua eo biển Hormuz có thể khiến giá LNG duy trì ở mức cao, làm gia tăng chi phí nhập khẩu của Ấn Độ. Dù vậy, nhu cầu từ các lĩnh vực thiết yếu và những khó khăn trong việc thay thế nguồn cung khí đốt trong nước được dự báo tiếp tục hỗ trợ lượng nhập khẩu, trong khi một số ngành nhạy cảm về giá có thể chuyển sang sử dụng nhiên liệu khác.
Việt Nam hàng ngày
CÙNG CHUYÊN MỤC