MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

"Nữ hoàng các loại hạt" đắt đỏ bậc nhất thế giới, ví như vàng nâu: Việt Nam có hẳn 1 thủ phủ chuyên trồng

24-02-2026 - 21:36 PM | Sống

Trong thế giới các loại hạt dinh dưỡng, mắc ca (macadamia) từ lâu được mệnh danh là "Nữ hoàng" nhờ hương vị béo ngậy đặc trưng và giá bán thuộc nhóm cao nhất thị trường.

Theo mức giá phổ biến trên thị trường quốc tế (trên trang AvestaMarket), mắc ca bán lẻ dao động khoảng 25–35 USD mỗi pound (tương đương 0,45 kg).

Với các dòng cao cấp, đặc sản vùng trồng nổi tiếng, giá có thể lên tới 60–80 USD/pound. Đây là con số không nhỏ nếu so với nhiều loại hạt khác. Với giá đắt đỏ, mắc ca được ví như "vàng nâu".

"Nữ hoàng các loại hạt" đắt đỏ bậc nhất thế giới, ví như vàng nâu: Việt Nam có hẳn 1 thủ phủ chuyên trồng- Ảnh 1.

Ảnh: Australian-macadamias

Vì sao mắc ca đắt đỏ?

Trước hết, cây mắc ca đòi hỏi thời gian đầu tư rất dài. Phải mất 7–10 năm kể từ khi trồng, cây mới cho năng suất ổn định. So với điều hay hạnh nhân chỉ cần 3–5 năm, thời gian "chờ đợi" của mắc ca dài hơn nhiều, kéo theo chi phí đầu tư ban đầu lớn và vòng quay vốn chậm.

Mắc ca có nguồn gốc từ bang Queensland của Australia – nơi được xem là quê hương của loài cây này. Ngoài Australia, các quốc gia sản xuất lớn hiện nay còn có South Africa, United States (đặc biệt là bang Hawaii) và Việt Nam. Tuy nhiên, cây chỉ phát triển tốt ở vùng khí hậu cận nhiệt đới, ẩm, đất thoát nước tốt nên không phải nơi nào cũng trồng được. Sản lượng toàn cầu vì thế không quá dồi dào.

Bên cạnh đó, mắc ca sở hữu lớp vỏ cứng bậc nhất trong các loại hạt, cần lực nén rất lớn để tách. Quy trình thu hoạch, sấy khô đúng độ ẩm, tách vỏ bằng máy chuyên dụng, phân loại nhân nguyên hạt đều yêu cầu thiết bị hiện đại và kiểm soát chặt chẽ. Chỉ một sai lệch nhỏ về độ ẩm cũng có thể khiến hạt bị mốc hoặc nứt nhân. Tỷ lệ hao hụt cao làm chi phí cho phần đạt chuẩn tăng lên đáng kể.

Ở chiều ngược lại, nhu cầu thị trường lại tăng nhanh. Mắc ca giàu chất béo không bão hòa đơn có lợi cho tim mạch, chứa vitamin B1, mangan và nhiều chất chống oxy hóa. Hương vị bùi, béo đặc trưng khiến loại hạt này được ưa chuộng tại Mỹ, châu Âu và Trung Quốc. Khi cung chưa theo kịp cầu, giá khó có thể "hạ nhiệt".

Việt Nam và tham vọng với "vàng nâu"

Tại Việt Nam, mắc ca được đưa vào trồng thử nghiệm từ nhiều năm trước và đang mở rộng nhanh trong khoảng một thập kỷ trở lại đây. Các vùng có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc.

"Nữ hoàng các loại hạt" đắt đỏ bậc nhất thế giới, ví như vàng nâu: Việt Nam có hẳn 1 thủ phủ chuyên trồng- Ảnh 2.

Hạt mắc ca.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, các vùng trồng mắc ca trọng điểm hiện nay gồm tỉnh Lâm Đồng (được xem là "thủ phủ" mắc ca), Đắk Lắk, Gia Lai và Điện Biên. Ngoài ra, một số khu vực thuộc Hà Nội (như Ba Vì) cũng phát triển diện tích trồng nhất định.

Mô hình phổ biến tại Tây Nguyên là trồng xen canh mắc ca với cà phê, hồ tiêu hoặc chè. Cách làm này giúp tận dụng đất đai, tăng hiệu quả kinh tế trên cùng đơn vị diện tích, đồng thời góp phần che phủ đất, hạn chế xói mòn. Nhiều hộ nông dân áp dụng quy trình chăm sóc giảm phân bón hóa học, hướng đến sản xuất bền vững.

Bên cạnh đó, một số mô hình mới đang được triển khai như trồng mắc ca hữu cơ, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hay kết hợp phát triển du lịch sinh thái vườn cây. Việc chế biến ngay sau thu hoạch giúp hạt giữ được độ tươi, hạn chế "thời gian chết" trong quá trình vận chuyển dài ngày như hàng nhập khẩu.

Dù vậy, ngành mắc ca Việt Nam vẫn đối mặt không ít thách thức: biến động giá thế giới, yêu cầu chất lượng cao từ thị trường xuất khẩu, rủi ro sâu bệnh và bài toán quy hoạch vùng trồng bền vững. Trong bối cảnh cung – cầu toàn cầu còn nhiều biến động, việc nâng cao năng suất, kiểm soát chất lượng và xây dựng thương hiệu quốc gia sẽ là yếu tố quyết định.

Từ một loại cây mới mẻ, mắc ca đang dần khẳng định vị thế trong cơ cấu cây trồng giá trị cao của Việt Nam. Nếu được phát triển bài bản, "vàng nâu" hoàn toàn có thể trở thành một ngành hàng nông sản chiến lược, mang lại thu nhập ổn định cho người dân vùng cao và đóng góp đáng kể cho xuất khẩu.

Theo Ngọc Minh

Đời sống & pháp luật

Trở lên trên