MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Tái cấu trúc vốn cho nền kinh tế: Bớt gánh nặng, tăng hiệu quả cho hệ thống ngân hàng

| | Tài chính - ngân hàng

Tái cấu trúc vốn cho nền kinh tế: Bớt gánh nặng, tăng hiệu quả cho hệ thống ngân hàng

Tín dụng ngân hàng đang chịu áp lực lớn khi nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng tăng. Trong bối cảnh đó, giảm gánh nặng cho hệ thống ngân hàng không chỉ nằm ở việc tăng khả năng huy động, mà cần phát triển thực chất các kênh vốn khác như trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán...

Vấn đề - Nhận định Tái cấu trúc vốn cho nền kinh tế: Bớt gánh nặng, tăng hiệu quả cho hệ thống ngân hàng Phạm Hiếu • 05/09/2026 06:30

Tín dụng ngân hàng đang chịu áp lực lớn khi nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng tăng. Trong bối cảnh đó, giảm gánh nặng cho hệ thống ngân hàng không chỉ nằm ở việc tăng khả năng huy động, mà cần phát triển thực chất các kênh vốn khác như trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán...

Tín dụng hiện chiếm khoảng 50-51% tổng nguồn vốn của nền kinh tế

Trong nhiều năm, tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn chủ lực của nền kinh tế, là kênh đầu tiên doanh nghiệp tìm đến khi cần vốn lưu động, đầu tư mở rộng hoặc triển khai dự án sản xuất kinh doanh... Quy mô tín dụng hiện nay cho thấy rõ vai trò đó: Tính đến ngày 31/7/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt khoảng 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025.

Ảnh minh họa

Không chỉ về quy mô, hệ thống ngân hàng còn thể hiện vai trò "huyết mạch" của nền kinh tế khi tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức cao và tăng trưởng tín dụng duy trì ở hai chữ số trong nhiều năm. Dòng vốn này đóng vai trò như "bà đỡ", thúc đẩy hàng loạt dự án sản xuất, hạ tầng và các công trình kinh tế trọng điểm. Khách quan nhìn nhận, ngành Ngân hàng đã hoàn thành tốt sứ mệnh "người giữ nhịp", linh hoạt điều tiết dòng tiền để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế vượt qua những giai đoạn khó khăn.

Tuy nhiên, việc nền kinh tế duy trì thói quen phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng đang tiềm ẩn những rủi ro hệ thống không thể xem nhẹ.

Khi nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các lĩnh vực như hạ tầng, năng lượng, sản xuất quy mô lớn ngày càng gia tăng. Trong khi đó, nguồn vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn, tạo ra áp lực không nhỏ lên khả năng cấp tín dụng, thanh khoản, vốn tự có và các tỷ lệ an toàn vốn. Nếu tiếp tục để dòng vốn ngân hàng gánh vác phần lớn nhu cầu vốn dài hạn, áp lực lên bảng cân đối tài sản và rủi ro hệ thống sẽ ngày càng chồng chất, đòi hỏi phải có chiến lược phát triển các kênh dẫn vốn khác một cách bền vững hơn.

Tại Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” được tổ chức mới đây, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, cho rằng nhu cầu vốn của Việt Nam sẽ tăng mạnh trong giai đoạn tới để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao.

Theo tính toán của Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV, từ nay đến năm 2030, tổng nguồn vốn của nền kinh tế cần tăng bình quân khoảng 13% mỗi năm; giai đoạn 2031-2045 cần duy trì khoảng 10%/năm.

Trong khi đó, cơ cấu cung ứng vốn vẫn phụ thuộc lớn vào ngân hàng. Theo TS. Cấn Văn Lực, tín dụng hiện chiếm khoảng 50-51% tổng nguồn vốn của nền kinh tế; thị trường cổ phiếu khoảng 6,4%, trái phiếu doanh nghiệp khoảng 7%, đầu tư công 12-15% và FDI khoảng 12%. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đồng thời khơi thông các kênh dẫn vốn khác để đáp ứng tương xứng nhu cầu của nền kinh tế.

Khơi thông kênh trái phiếu và chứng khoán

Trong bối cảnh áp lực lên vai ngân hàng ngày càng gia tăng, Việc đa dạng hóa nguồn vốn đóng vai trò then chốt trong việc tái cấu trúc hệ thống tài chính, giúp giảm áp lực vốn trung và dài hạn lên hệ thống ngân hàng.

Khi thị trường trái phiếu, chứng khoán và các quỹ đầu tư phát triển thực chất, doanh nghiệp và các dự án hạ tầng có thêm kênh huy động vốn dài hạn, phù hợp với vòng đời đầu tư. Điều này giúp ngân hàng không còn là điểm đến cuối cùng cho mọi nhu cầu vốn, từ đó giảm rủi ro tập trung tín dụng vào một số lĩnh vực và cải thiện chất lượng bảng cân đối. Nhờ đó, ngân hàng có thể tập trung nguồn lực vào các khoản vay ngắn hạn và lĩnh vực có khả năng quản trị rủi ro tốt, góp phần ổn định hệ thống và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Theo S&I Ratings, trái phiếu doanh nghiệp hiện có quy mô khoảng 11% GDP, thấp hơn đáng kể so với tín dụng ngân hàng, khoảng 145% GDP và thị trường cổ phiếu, khoảng 78% GDP. Mục tiêu đến năm 2030 là đưa quy mô thị trường trái phiếu lên khoảng 25% GDP. Khoảng cách này cho thấy dư địa phát triển của kênh vốn này còn rất lớn.

Trái phiếu doanh nghiệp có lợi thế trong việc cung cấp nguồn vốn dài hạn cho doanh nghiệp và các dự án có khả năng tạo dòng tiền. Khi thị trường vận hành lành mạnh, doanh nghiệp có thêm lựa chọn thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, trong khi ngân hàng có thể tập trung hơn vào vốn lưu động và các khoản vay phù hợp với khả năng quản trị rủi ro.

Đáng chú ý, trái phiếu còn có thể trở thành cầu nối giữa thị trường vốn và đầu tư hạ tầng. Theo ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch HĐQT Phát Thịnh Group & Saigon Ratings, cơ chế phát hành trái phiếu sẽ phát huy hiệu quả khi nguồn vốn huy động được gắn với những tài sản hạ tầng có khả năng tạo ra giá trị kinh tế - xã hội dài hạn. Nếu được thiết kế phù hợp, trái phiếu hạ tầng có thể trở thành một cấu phần trong cấu trúc vốn của các dự án lớn, qua đó giảm sự phụ thuộc vào ngân sách và tín dụng ngân hàng.

Đối với thị trường chứng khoán, cần nâng vai trò huy động vốn bên cạnh mục tiêu tăng thanh khoản. Thông qua phát hành cổ phiếu, IPO và tăng vốn, doanh nghiệp có thể bổ sung vốn chủ sở hữu mà không làm gia tăng nghĩa vụ nợ, đồng thời củng cố năng lực tài chính và khả năng tiếp cận tín dụng.

Việc Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, có hiệu lực từ tháng 9/2026, mở thêm cơ hội thu hút dòng vốn quốc tế. Đây cũng là cơ hội để thúc đẩy thị trường sơ cấp, nâng chất lượng doanh nghiệp niêm yết và tăng khả năng huy động vốn cho đầu tư.

Theo TS. Cấn Văn Lực, cần nâng tỷ trọng đóng góp của thị trường vốn, gồm cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư, lên khoảng 25-27% tổng nguồn vốn của nền kinh tế, tương đương 1,5-1,7 lần hiện nay.

Để đạt mục tiêu này, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, Việt Nam cần một chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, trong đó đồng bộ các định hướng phát triển ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số và tài chính xanh.

Cùng với đó là đa dạng hóa các định chế tài chính và các nhà đầu tư dài hạn như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản và các tổ chức tài chính phi ngân hàng; từng bước phát triển các thị trường mới như phái sinh, carbon và tài sản số. Hạ tầng dữ liệu tài chính, cơ chế xử lý nợ và mô hình giám sát dựa trên rủi ro, công nghệ và dữ liệu cũng cần được hoàn thiện.

Tạo vốn mồi từ Nhà nước và khơi thông nguồn lực quốc tế

Với các đại dự án hạ tầng, giảm áp lực cho ngân hàng còn phụ thuộc vào cách thiết kế cấu trúc vốn ngay từ đầu. Những dự án có quy mô hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn tỷ đồng thường có thời gian hoàn vốn dài và rủi ro cao hơn các khoản vay thương mại thông thường. Nếu phần vốn Nhà nước tham gia chưa đủ lớn, phần vốn còn thiếu vẫn có thể quay trở lại với tín dụng ngân hàng.

Do đó, tăng vai trò vốn Nhà nước trong một số dự án PPP, sử dụng đầu tư công làm vốn mồi và thiết kế cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý sẽ giúp thu hút thêm nguồn vốn tư nhân. Khi Nhà nước tạo được nền tảng ban đầu, ngân hàng không nhất thiết phải gánh toàn bộ nhu cầu vốn của dự án.

Theo nghiên cứu của Công ty Chứng khoán Rồng Việt cho rằng, đầu tư công được đẩy mạnh cũng tạo tác động lan tỏa tới nền kinh tế và thanh khoản hệ thống ngân hàng. Giải ngân vốn đầu tư công là một trong những yếu tố hỗ trợ thanh khoản, qua đó góp phần hạ nhiệt mặt bằng lãi suất.

Bên cạnh nguồn lực trong nước, vốn quốc tế cũng cần được khai thông mạnh hơn. Nguồn vốn này có thể bổ sung cho cả doanh nghiệp và ngân hàng, đặc biệt đối với những dự án lớn, xanh, công nghệ cao hoặc có khả năng tạo dòng tiền dài hạn.

Điều quan trọng là xây dựng được cơ chế để các nguồn vốn trong và ngoài nước có thể kết hợp, thay vì để ngân hàng trở thành điểm đến cuối cùng của mọi nhu cầu vốn.

Điều nền kinh tế cần không phải là thay thế tín dụng ngân hàng bằng một kênh vốn khác, mà là hình thành một cấu trúc trong đó mỗi nguồn vốn đảm nhận một vai trò phù hợp.

Ngân sách Nhà nước và đầu tư công có thể tạo vốn mồi cho các dự án hạ tầng thiết yếu; trái phiếu cung cấp nguồn vốn trung, dài hạn; thị trường chứng khoán bổ sung vốn cổ phần, giúp doanh nghiệp tăng quy mô vốn chủ sở hữu; vốn quốc tế mở rộng thêm nguồn lực cho các dự án lớn. Trong cấu trúc đó, ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong cung ứng vốn lưu động và các khoản tín dụng phù hợp với khả năng quản trị rủi ro.

Theo cách tiếp cận này, giảm gánh nặng cho ngân hàng không đồng nghĩa với giảm vai trò của ngân hàng. Ngược lại, khi không phải đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế, ngân hàng có thể sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị và kiểm soát rủi ro tốt.


Theo Phạm Hiếu

Thị trường tài chính tiền tệ

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên