Tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt
Giá trị gia tăng thực sự mà nền kinh tế Việt Nam giữ lại chưa tương xứng với quy mô kim ngạch xuất khẩu
Theo số liệu của Cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2025 ước đạt 920 tỉ USD - tăng 16,9% so với năm trước, mức cao nhất từ trước đến nay. Cán cân thương mại tiếp tục xuất siêu 21,18 tỉ USD.
Thực tế đáng lo
Có điều, thực trạng kéo dài nhiều năm qua là khu vực kinh tế trong nước vẫn nhập siêu, trong khi khu vực vốn đầu tư nước ngoài (FDI) luôn xuất siêu. Tỉ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp (DN) trong nước ở chuỗi cung ứng cũng còn thấp.
Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam lần 4 - năm 2025 do Báo Người Lao Động vừa tổ chức với chủ đề "Ổn định vĩ mô, thực thi cải cách: Nền tảng cho tăng trưởng 2026", TS Cấn Văn Lực - Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng - đã nêu lên những con số cụ thể, cho thấy thực tế đáng lo này.

Ngành hạt điều Việt Nam hiện nhập khẩu đến 90% nguyên liệu để chế biến xuất khẩu Ảnh: AN NA
Theo đó, năm 2024, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu đạt kim ngạch 114,6 tỉ USD - tăng 19,8%, chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Trong khi đó, khu vực FDI xuất khẩu đạt 327,7 tỉ USD, tăng 12,3% và chiếm 71,7%. Năm 2025, số liệu chi tiết 11 tháng cho thấy xuất khẩu của khu vực trong nước giảm 1,7%, chiếm 23,8%; trong khi khu vực FDI lại tăng 23%, chiếm tới 76,2% tổng kim ngạch.
"Thị phần xuất khẩu của DN trong nước đang thu hẹp, còn khu vực FDI ngày càng tăng. Tỉ lệ nội địa hóa bình quân các ngành, lĩnh vực cũng chỉ khoảng 36,6%. Dù thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân, công nghiệp hỗ trợ và đổi mới sáng tạo nhưng khoảng cách về công nghệ, quy mô, năng lực quản trị vẫn là rào cản lớn giữa khu vực DN trong nước với DN FDI" - TS Cấn Văn Lực nhìn nhận.
Chuyên gia kinh tế - TS Trần Du Lịch cho rằng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng ấn tượng, khoảng 8% trong điều kiện kinh tế thế giới nhiều khó khăn. Song, một vấn đề mang tính cấu trúc kéo dài nhiều năm là tỉ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm xuất khẩu còn thấp, mới đạt khoảng 36,6%. Điều này khiến giá trị gia tăng thực sự mà nền kinh tế giữ lại chưa tương xứng với quy mô kim ngạch.
"Nếu nâng được tỉ lệ này lên 40%, thậm chí 50%, sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho giai đoạn phát triển mới, đồng thời thu hút và thúc đẩy DN trong nước phát triển" - TS Trần Du Lịch nhấn mạnh.
PGS-TS Trần Đình Thiên, Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng, cũng băn khoăn khi phần giá trị gia tăng thực sự giữ lại cho nền kinh tế trong nước không nhiều. Khu vực DN tư nhân chỉ tăng trưởng khoảng 6%-7%, thấp hơn mặt bằng chung, trong khi nền kinh tế ngày càng phụ thuộc khu vực FDI.
"Khu vực FDI đóng góp tới khoảng 3/4 kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng, trong khi dòng tiền nội địa được bơm ra lại bị ách tắc, đọng lại trong hệ thống. Dù Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do và dành nhiều ưu đãi cho xuất khẩu nhưng DN FDI vẫn tận dụng tốt hơn DN trong nước. Ngược lại, các rào cản thể chế đang khiến DN Việt Nam yếu dần, năng lực nội sinh không được chuẩn bị đầy đủ để bước ra "sân chơi lớn" - PGS-TS Trần Đình Thiên phân tích.
Cần thêm chính sách hỗ trợ
Theo tìm hiểu của phóng viên, việc phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu không chỉ diễn ra với các ngành công nghiệp mà gần đây còn bắt đầu mở rộng với cả các ngành chế biến nông sản.
Ví dụ, ngành hạt điều từ chỗ xuất khẩu nguyên liệu, Việt Nam đã trở thành nước nhập khẩu đến 90%. Nguyên nhân là do cây điều ngày càng kém cạnh tranh so với cây trồng khác nên diện tích ngày càng thu hẹp. Trong khi đó, ngành chế biến điều của Việt Nam lại nâng công suất, tự động hóa ngày càng cao. Vì vậy, các DN điều Việt Nam thường tranh nhau mua nguyên liệu, đẩy giá đầu vào tăng cao và cạnh tranh bán hàng, đẩy giá đầu ra thấp khiến biên độ lợi nhuận giảm.
Không những thế, ông Bạch Khánh Nhựt, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS), còn chỉ ra thực tế đáng lo hơn: ngành điều Việt Nam đang phải gia công cho châu Phi với giá trị gia tăng thấp. Cụ thể, khoảng 5 năm trở lại đây, các nước châu Phi không còn mặn mà xuất khẩu điều thô. Họ bắt đầu đầu tư nhà máy, giữ lại nguyên liệu để chế biến sâu.
Ông Nhựt dẫn chứng: "Trong quy trình chế biến, máy móc, công nghệ giải quyết được 70% khối lượng công việc, phần này châu Phi hoàn toàn làm được. Tuy nhiên, 30% còn lại là khâu xử lý thủ công, đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ để sản phẩm đạt chuẩn quốc tế thì Việt Nam vẫn đang làm tốt nhất".
Vì vậy, các nước châu Phi đã đẩy phần việc này sang Việt Nam dưới dạng xuất khẩu nhân điều sơ chế. Việt Nam vô tình trở thành "công xưởng gia công", thực hiện khâu cuối cùng để hoàn thiện sản phẩm rồi mới xuất khẩu. Lãnh đạo VINACAS cho rằng nếu xu hướng này tiếp diễn, khi các đối thủ hoàn thiện chuỗi sản xuất, vai trò của Việt Nam sẽ bị lu mờ, ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
Theo ông Phan Minh Thông, Tổng Giám đốc Công ty CP Phúc Sinh, các nông sản của Việt Nam xuất khẩu thuộc tốp đầu của thế giới chủ yếu là xuất khẩu thô như hạt tiêu, cà phê, gạo… Do đó, nhà nước cần tạo điều kiện cho các DN đầu tư xây dựng nhà máy chế biến sâu để nâng cao giá trị xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Những điều kiện này bao gồm chính sách ổn định, ưu tiên vay vốn ưu đãi…
Ông Paul Le, Phó Chủ tịch Tập đoàn Central Retail Việt Nam, thông tin sản lượng cà phê của Việt Nam chiếm gần 20% toàn cầu nhưng giá trị chỉ chiếm khoảng 2%, chủ yếu do xuất khẩu thô và chưa có thương hiệu. Vì vậy, ngành cà phê Việt Nam cần đầu tư chế biến để xuất khẩu thành phẩm, nghiên cứu phát triển những sản phẩm được thế giới yêu thích nhằm nâng cao giá trị, lợi nhuận.
Ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest), nhìn nhận đã đến lúc DN gỗ trong nước cần chủ động phát triển các mô hình xuất khẩu sản phẩm có giá trị gia tăng cao, tăng hàm lượng chất xám, đẩy mạnh marketing, thiết kế và nâng tỉ lệ nội địa hóa.
"Với vai trò đầu tàu, TP HCM - nơi tập trung khoảng 70% DN xuất khẩu đồ gỗ - đủ điều kiện hình thành thương hiệu đồ gỗ giá trị cao, cùng hệ sinh thái nhân lực, quản trị, công nghệ và logistics đồng bộ, kết nối hiệu quả với thị trường toàn cầu" - ông Khanh đánh giá.
Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cho biết để nâng cao giá trị nội địa hóa, ngành dệt may chỉ còn cách chủ động chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực sản xuất nguyên phụ liệu trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu.
Trong khi đó, ông Châu Minh Thi, Chủ tịch Hiệp hội Da giày - Túi xách TP HCM, cho rằng muốn nâng giá trị gia tăng, DN cần được hỗ trợ tài chính để đầu tư công nghệ, xây dựng trung tâm thiết kế hiện đại, hình thành các trung tâm nguyên phụ liệu trong nước, qua đó nâng sức cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế.
Tập trung vào các mặt hàng có thế mạnh
Ở góc độ hiệp hội, ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội DN TP HCM (HUBA), cho biết cộng đồng DN rất mong muốn nhà nước có những chính sách để nâng tỉ trọng xuất khẩu của DN Việt Nam.
"Các mặt hàng xuất khẩu mà chúng ta cần tập trung gồm nông sản, lương thực, thực phẩm và tất cả mặt hàng mà chúng ta có khả năng làm ra. Đối với mảng xuất khẩu của khối FDI, các DN Việt Nam cần tham gia chuỗi cung ứng của họ nhiều hơn, nâng tỉ lệ từ 20%-30% lên 40%-50%" - Chủ tịch HUBA đề xuất.
Người Lao động