Mạnh hơn sau khủng hoảng
Vị thế doanh nghiệp thay đổi theo thời vận. Khủng hoảng qua đi, nước Mỹ sẽ chứng kiến sự đi lên vững vàng của các tên tuổi chưa từng được biết đến.
- 28-05-2009Không dễ thoát khỏi khủng hoảng bằng lạm phát
- 28-05-2009Suy thoái kinh tế Mỹ sẽ chấm dứt vào quý 3/2009
- 19-05-2009Tác động của suy thoái kinh tế lên thị trường lao động Mỹ sẽ còn kéo dài
- 18-05-2009Ngành ngân hàng thế giới đi lên từ đống đổ nát
Những công ty không thuộc lĩnh vực tài chính của Mỹ đang chịu nhiều khó khăn, tuy nhiên sau khủng hoảng, họ sẽ mạnh hơn bao giờ hết.
Khủng hoảng bắt đầu từ trung tâm tài chính phố Wall. Chuyên gia tài chính hàng đầu phố Wall bỗng nhiên nhận ra rằng thủ thuật của họ đã mất tác dụng. Công cụ phái sinh từng cho là sẽ bảo vệ cho họ khỏi bất kỳ cú sốc nào hóa ra lại phản tác dụng. Hàng nghìn tỷ USD biến mất. Thị trường tín dụng đóng băng, khủng hoảng lan sang thị trường nhà đất.
Suy thoái kinh tế Mỹ bắt đầu vào cuối năm 2007. Từ đó đến nay, khủng hoảng nội bộ nước Mỹ đã biến thành khủng hoảng toàn cầu. Người ta vẫn tranh cãi nhau về việc ai sẽ phải chịu trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng này.
Chuyên gia tài chính cuối cùng nhận ra họ không khôn ngoan như họ tưởng? Nhà điều tiết thị trường đưa ra chính sách sai? Người tiêu dùng vay tiền quá nhiều? Chính trị gia khuyến khích sở hữu nhà quá mạnh tay, kể cả những người không có khả năng cũng có thể có nhà? Tất cả đối tượng này phải chịu trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng, họ đã tạo ra cả một đống đổ nát cho thế giới.
Từ năm 2007, nước Mỹ đã để mất hơn 5 triệu việc làm. 15% lực lượng lao động không có việc làm hoặc trong tình trạng bán thất nghiệp, tổng số này tương đương khoảng 25 triệu người.
Những ngành vẫn tuyển mới lao động bao gồm y tế, và khu vực công. So với mức thấp thiết lập vào tháng 3/2009, giá trị cổ phiếu niêm yết của các công ty Mỹ giảm 57% so với đỉnh cao vào tháng 10/2007. Từ đó đến nay, giá trị này đã hồi phục phần nào.
Ông Mark Zandi, chuyên gia kinh tế học tại Moody’s Economy.com dự đoán suy thoái sẽ khiến quy mô kinh tế Mỹ thu hẹp khoảng 3,5%. Ông Lenny Mendonca, chủ tịch Viện nghiên cứu McKinsey, nhận xét đối với phần lớn giám đốc điều hành các công ty cho rằng năm 2009 nhiều thách thức nhất trong lịch sử.
Tình hình khó khăn đến nỗi lương thưởng của giới chủ cũng sụt giảm. Mức lương trung bình của giám đốc điều hành các công ty thuộc chỉ số S&P 500 hạ 6,8% trong năm 2008.
Mức lương của giám đốc điều hành những tổ chức hàng đầu phố Wall giảm mạnh nhất, mức lương trung bình giảm 38% và mức thưởng trung bình giảm về không. Ngay cả giám đốc điều hành của công ty không thuộc lĩnh vực tài chính giảm khoảng 2,7%.
Không ngành kinh doanh nào không gặp khó khăn. Ông Arne Sorenson, chủ tịch chuỗi khách sạn Marriots, cho rằng cuộc khủng hoảng hiện nay giống như cuộc khủng hoảng đã ảnh hưởng tiêu cực đến nước Mỹ thời kỳ năm 2001. Khi tháp đôi sụp đổ, người Mỹ ngừng đi du lịch. Marriott có một quý kinh doanh tệ hại chưa từng có, doanh thu mỗi phòng giảm 25%. Năm nay, dù không có cuộc khủng bố nào, ngành khách sạn cũng gặp khó khăn tương tự.
Bong bóng trong ngành khách sạn cũng giống như bong bóng trong các ngành khác, trước đó sẽ trải qua giai đoạn phát triển bùng nổ. Dù nhiều công ty lớn chế ngự được ham muốn vay tiền quá nhiều, công ty bất động sản nhanh chóng tranh thủ chộp lấy các khoản vay lãi suất thấp, xây dựng khách sạn lớn và sang trọng cứ như thể cả thế giới đi nghỉ ở Las Vegas. Khi bong bóng vỡ, nhu cầu sụp đổ. Chủ khách sạn mắc kẹt với đống phòng khách sạn trống trong khi nhiều khu khách sạn mới tiếp tục được xây dựng.
Nhiều ngành khác cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Một loạt công ty xây dựng, bất động sản và bán lẻ đã phá sản. Đợt khủng hoảng đó ảnh hưởng đến cả Detroit. Năm ngoái, ngành ô tô Mỹ có khả năng sản xuất khoảng 17 triệu chiếc xe. Doanh số năm 2009 có thể chỉ bằng một nửa con số đó.
Ba hãng xe lớn nhất của Mỹ, General Motors, Ford và Chrysler tốn rất nhiều chi phí cho tiền bảo hiểm, y tế và lương hưu cho nhân công buộc phải nghỉ hưu ở tuổi48. Cả ba công ty này đang cố gắng tái cơ cấu một cách tuyệt vọng. Chỉ còn Ford có thể tồn tại.
Trong thời kỳ khó khăn, không ai có thể vui vẻ được. Rất ít người Mỹ hiểu được căn nguyên đợt suy thoái kinh tế hiện nay. Một số người cố gắng tìm ra kẻ có tội. Từ người thường cho đến các chính trị gia đều sôi sục lên. Hạ viện Mỹ thông qua kế hoạch áp dụng mức thuế cao đối với các khoản thưởng tại tập đoàn bảo hiểm AIG. Tổng chưởng lý New York đe dọa sẽ công bố tên những người đã nhận thưởng trừ khi họ mang trả lại tiền. Thời kỳ lương thưởng hoang phí đã chấm dứt.
Quy định thuế có hiệu lực trở về trước và đe dọa nhắm tới cá nhân? Cộng đồng kinh doanh hy vọng những hành vi đó không lan rộng. Trong lúc đó, họ đang cố gắng hạn chế những hành động có vẻ như hoang phí. Các cuộc gặp tại khu nghỉ là điều cấm kỵ. Goldman Sachs, một trong số ngân hàng hàng đầu phố Wall, mới đây đã hủy họp tại Las Vegas vào phút cuối, thay vào đó họ đến San Francisco dù thực tế chi phí ở đây cao hơn nhưng không gây điều tiếng về sự xa hoa.
Khủng hoảng cuối cùng rồi sẽ kết thúc. Doanh nghiệp Mỹ rồi lại có hào quang như trước đây. Nhiều công ty sẽ ra đi, nhưng công ty còn tồn tại sẽ phát triển nhanh và mạnh hơn trước đây. Tỷ trọng đóng góp của ngành tài chính vào nền kinh tế sẽ giảm và duy trì ở mức đó trong nhiều năm.
Tầm quan trọng của nhóm công ty phi tài chính sẽ tăng lên cùng với khả năng thu hút nhân tài hàng đầu của họ. Nước Mỹ sẽ vẫn là địa điểm lý tưởng nhất thế giới để làm kinh doanh miễn là Tổng thống Obama và thượng nghị sỹ Đảng Dân chủ trong Quốc hội Mỹ cũng như các tổ chức lao động đưa ra chính sách phù hợp.
Khủng hoảng khiến thị trường không mấy vui vẻ. Khả năng lãnh đạo tồi bị phơi bày. Tất yếu, cái xấu sẽ được thay thế bằng cái tốt và hiệu quả hơn. Cùng lúc đó, cải cách về công nghệ cũng sẽ được xét đến. Cuối cùng, sau khủng hoảng, hai thay đổi lớn đã diễn ra.
Dù ông Obama có hài hước thế nào khi nói đến việc giảm khí thải các bon, kế hoạch của ông dù có cần thiết nhưng tiêu tốn rất nhiều chi phí.Việc chuyển sang nền kinh tế hàm lượng các bon thấp sẽ có lợi đối với một số công ty tuy nhiên lại gây hại đến một số công ty khác và buộc mỗi công ty phải cân nhắc lại về cách thức điều hành.
Sẽ thật khó để dự báo về việc liệu những cải cách của ông sẽ có thể mang lại điều gì mới cho ngành y tế hiện đang yếu kém? Nếu ông có thể hạ được chi phí y tế, người Mỹ sẽ được hưởng một ân huệ lớn. Nhiều doanh nghiệp hẳn sẽ hưởng lợi, người lao động chứ không phải ông chủ các công ty sẽ nắm phần lớn số tiền tiết kiệm
Thời kỳ tới, doanh nghiệp nào cẩn trọng với các chi phí, khoản nợ, thận trọng với các dòng tiền và luôn chú ý đến nhu cầu khách hàng sẽ làm ăn kinh doanh tốt. Thị trường sẽ chứng kiến sự nổi danh của một loạt tên tuổi mới.
Doanh nghiệp thay đổi theo thời vận. Năm 1955, ông Harlow Curtice – chủ tịch của General Motors được tạp chí Time vinh danh là người đàn ông của năm. Tạp chí Time đã dành những lời có cánh cho ông: “GM đã đưa nước Mỹ đến một trật tự kinh tế mới, một đỉnh cao mới của sự thịnh vượng.”
Nửa thế kỷ sau, người ta thường nhắc đến GM như điển hình cho việc quản lý tồi. Tháng 3/2009, người đàn ông năm 2009 cũng do Time bình chọn - Tổng thống Obama đã sa thải giám đốc điều hành của GM.
Chính phủ phải vực dậy ngành ô tô và giám sát kế hoạch tái cơ cấu. Nếu may mắn, GM cũng chỉ có thể tồn tại thêm được một thời gian ngắn. Thế nhưng trong tương lai có khả năng chính quyền Washington sẽ phải can thiệp sâu không chỉ vào ngành ô tô mà còn là mọi mặt nền kinh tế. Dù những cố vấn cho Tổng thống Obama tài giỏi đến đâu, bài học từ lịch sử cho thấy họ sẽ không thể làm tốt được việc đó.
Ngọc Diệp
Theo Economist