MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

4 yếu tố kéo tụt kết quả kinh doanh quý IV/2008

thanhtu | 10-02-2009 - 13:52 PM | Thị trường chứng khoán

4 yếu tố chủ đạo bao gồm môi trường kinh doanh không thuận lợi, hàng tồn kho, đầu tư tài chính và biến động tỷ giá đã kéo lợi nhuận của các DN quý IV/2008 đi xuống.

Môi trường kinh doanh khó khăn

Cuối năm 2008, suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm giá cao su tự nhiên giảm mạnh. Hệ quả, dù quý III và quý IV là thời gian sản xuất chính trong năm của các DN ngành cao su nhưng hiệu quả kinh doanh của nhiều DN ngành này thụt lùi đáng kể khi giá bán giảm tới 40%.

Trong quý IV/2008, lợi nhuận của CTCP Cao su Tây Ninh (TRC) giảm 31,5% so với quý III. Theo giải trình từ TRC, lý do là giá bán bình quân của Công ty giảm từ mức 50 triệu đồng/tấn trong quý III xuống 30 triệu đồng/tấn trong quý IV. Tình trạng tương tự cũng xảy ra với các công ty cùng ngành như DPR, HRC, TNC…

Trong quý IV/2008, lợi nhuận sau thuế của CTCP Tập đoàn Hoà Phát (HPG) âm 232 tỷ đồng do giá thép và nguyên liệu sản xuất của ngành giảm còn 50% so với đỉnh. Kết quả, giá thép bán ra trong nước thấp hơn giá thành sản xuất là nguyên nhân thua lỗ của HPG và nhiều công ty cùng ngành.

Với ngành phân bón, cuối năm 2008 giá phân urê giảm 60%, amoniac giảm trên 70%, NPK giảm 60% so với tháng 8, khiến cả ngành lao đao. Trong quý IV/2008, CTCP Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ (TSC) lỗ gần 53 tỷ đồng; Tổng CTCP Hóa chất và Phân đạm Phú Mỹ (DPM) lỗ gần 87 tỷ đồng…

Trong quý IV/2008, TSC phải dành 34 tỷ đồng trả lãi vay ngân hàng cho các hợp đồng tín dụng trước đó; CTCP Thủy điện Cần Đơn lỗ 15,6 tỷ đồng do chi phí tài chính tăng tới 21 tỷ đồng; chi phí lãi vay CTCP Alphanam tăng hơn 200% so với cùng kỳ năm 2007, góp phần làm lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ âm 7,5 tỷ đồng…

Thời gian tới, chi phí vốn vay không còn là áp lực với các DN, nhưng môi trường kinh doanh không thuận lợi tiếp tục là bài toán nan giải với hầu hết các DN khi tìm đầu ra cho sản phẩm, đặc biệt là các DN xuất khẩu.

Gánh nặng hàng tồn kho

Quý IV/2008, CTCP Nam Việt (ANV) lỗ 131 tỷ đồng, xuất phát từ các khó khăn trong hoạt động xuất khẩu khiến lượng hàng tồn kho lên tới 679 tỷ đồng, dù Công ty đã chủ động giảm công suất. Công ty đã phải trích lập dự phòng 64 tỷ đồng giảm giá hàng tồn kho.

Tình hình nguyên vật liệu tăng cao hồi đầu năm 2008 khiến nhiều DN phải dự trữ phục vụ cho sản xuất. Đến cuối năm, giá nguyên liệu giảm mạnh khiến nhiều DN lao đao. Quý IV/2008, CTCP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (RAL) lỗ 8 tỷ đồng do phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (thành phẩm và nguyên liệu) gần 16 tỷ đồng. Tình trạng tương tự cũng diễn ra với hầu hết các DN sử dụng nhiều nguyên phụ liệu nhập khẩu.

Nhiều DN ngành thép và phân bón đều có số lượng hàng tồn kho lớn. CTCP Kim khí TP. HCM (HMC) lỗ 25 tỷ đồng trong quý IV/2008, do Công ty trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho hơn 86 tỷ đồng. Tương tự, TSC trích lập hơn 48 tỷ đồng, DPM trích lập 186 tỷ đồng… Theo đánh giá chung, hàng tồn kho vẫn là gánh nặng với nhiều DN trong những tháng đầu năm 2009.

Nhọc nhằn đầu tư tài chính

Quý IV/2008, CTCP Tài chính Dầu khí (PVF) lỗ 405 tỷ đồng, kéo lợi nhuận cả năm 2008 xuống còn hơn 50 tỷ đồng, chủ yếu là do trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, lỗ từ hoạt động đầu tư, các khoản dự phòng rủi ro tín dụng lên tới gần 1.132 tỷ đồng, dù lãi đầu tư đạt gần 440 tỷ đồng, thu nhập từ kinh doanh ngoại hối đạt 235 tỷ đồng, thu nhập khác đạt 397 tỷ đồng. CTCP Cơ điện lạnh (REE) phải trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán thêm 71 tỷ đồng do TTCK giảm sâu, nâng tổng mức trích lập cả năm lên 467 tỷ đồng, khiến Công ty lỗ 139 tỷ đồng trong năm 2008.

Quý III/2008, CTCK Kim Long (KLS) lãi 3,7 tỷ đồng, nhưng kết thúc năm 2008, Công ty công bố thua lỗ tới 347 tỷ đồng. KLS đã chấp nhận bán lỗ nhiều khoản tự doanh. Kết quả, trong quý IV/2008, tổng tài sản của Công ty giảm 282 tỷ đồng (đầu tư tài chính ngắn hạn giảm hơn 235 tỷ đồng, các khoản đầu tư tài chính dài hạn giảm 19 tỷ đồng…). Không chấp nhận bán lỗ, CTCK Hải Phòng phải thực hiện trích lập dự phòng các khoản đầu tư tài chính khiến quý IV/2008 Công ty lỗ gần 34 tỷ đồng, lũy kế cả năm lỗ 120 tỷ đồng.

Trong năm 2009, những khoản trích lập dự phòng đầu tư tài chính có thể sẽ không còn là áp lực với các DN do TTCK được nhận định là khó giảm sâu.

Tỷ giá - rủi ro bất khả kháng

Hoạt động kinh doanh của CTCP Nhiệt điện Phả Lại có tính ổn định cao do đặc thù của ngành điện, nhưng khoản vay 36,2 tỷ yên (JPY) đã trở thành gánh nặng cho Công ty khi ngày 31/12/2008 tỷ giá JPY/VND là 185, tăng khoảng 30% so với cuối năm 2007. Điều này làm PPC phải gánh một khoản chi phí gần 1.600 tỷ đồng do biến động tỷ giá. Tuy nhiên, khoản vay của PPC được trả dần trong 20 năm, chỉ 1,81 tỷ yên trả nợ mỗi năm chịu tác động thực sự của biến động tỷ giá này. Việc trích lập không làm dòng tiền của DN thay đổi. Nếu tỷ giá JPY/VND giảm, thời gian tới PPC có thể hoàn nhập số chi phí này.

Quý IV/2008, CTCP Vận tải Xăng dầu VIPCO (VIP) có lợi nhuận sau thuế âm hơn 2 tỷ đồng. Khoản vay dài hạn đầu tư tàu Petrolimex 06 và Petrolimex 10 của VIP có gốc vay ngoại tệ (USD) đã khiến Công ty phải trích lập chi phí chênh lệch tỷ giá gần 30 tỷ đồng. Tương tự, lợi nhuận của nhiều DN trong quý IV/2008 giảm do tác động từ sự biến động của tỷ giá như PVD, TCR…

Giới chuyên môn nhận định, trong năm 2009, tỷ giá USD/VND nhiều khả năng sẽ được điều chỉnh tăng để hỗ trợ xuất khẩu. Vì vậy, các DN vay nợ bằng ngoại tệ, nhưng thu nhập bằng nội tệ có thể phải đối mặt với rủi ro từ biến động tỷ giá.

Theo Giang Thanh
ĐTCK

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên